Có hiệu lực từ ngày 31/7, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được đánh giá là bước cải cách toàn diện nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực này.
Theo Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ NN&MT) Huỳnh Tấn Đạt, điểm nổi bật của Nghị quyết là toàn bộ quy trình cấp và quản lý mã số sẽ được thực hiện trên môi trường số thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ NN&MT.
Một thay đổi quan trọng khác là phân cấp mạnh cho địa phương. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã được trao thẩm quyền trực tiếp cấp, cấp lại, thu hồi, tạm dừng hoặc khôi phục mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói, đồng thời chịu trách nhiệm hậu kiểm theo quy định.
Bên cạnh đó, thành phần hồ sơ cũng được tinh giản đáng kể. Hồ sơ đề nghị cấp mã số chỉ còn đơn đề nghị theo mẫu, bãi bỏ bản thuyết minh kỹ thuật, giúp giảm khoảng 50% thành phần hồ sơ. Người dân và doanh nghiệp cũng không phải nộp lại những giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu của cơ quan quản lý.
Đặc biệt, thời gian giải quyết thủ tục được rút ngắn mạnh. Đối với các tổ chức và cá nhân không đăng ký xuất khẩu vào thị trường yêu cầu mã số vùng trồng, thời gian cấp giảm từ 14 ngày xuống còn tối đa 3 ngày làm việc, tương đương giảm gần 79%. Đối với các thị trường yêu cầu mã số, thời gian xử lý còn tối đa 10 ngày, giảm 4 ngày so với trước.

Nghị quyết cũng bãi bỏ quy định về diện tích tối thiểu để được cấp mã số, đồng thời quy định rõ việc cấp mã cho cây trồng xen canh và xác định cụ thể chủ thể chịu trách nhiệm nhằm bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc…
Theo bà Ngô Tường Vy, Tổng Giám đốc Tập đoàn Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu, chi phí xây dựng mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói từ lâu là một trong những rào cản lớn của ngành sầu riêng. Trong khi diện tích được cấp mã số còn thấp so với tổng diện tích canh tác, phần lớn nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long có sản xuất quy mô nhỏ. Vì vậy, việc bãi bỏ quy định diện tích tối thiểu sẽ tạo điều kiện để các địa phương triển khai thuận lợi hơn.
Đánh giá về những điểm mới, ông Nguyễn Ngọc Linh, chuyên gia Viện Phát triển bền vững và Kinh tế số cho rằng, cải cách lần này mang lại 3 lợi ích rõ rệt: Nhanh hơn, đơn giản hơn và minh bạch hơn.
Quan trọng hơn, Nghị quyết chuyển từ cơ chế "tiền kiểm là chính" sang "hậu kiểm là chính". Tổ chức, cá nhân được tự kê khai và chịu trách nhiệm về thông tin đã khai báo; cơ quan quản lý tập trung kiểm tra sau khi cấp mã, chỉ thực hiện tiền kiểm khi nước nhập khẩu yêu cầu.
Cũng theo ông Nguyễn Ngọc Linh, mã số vùng trồng không chỉ là điều kiện để xuất khẩu mà còn là cam kết về chất lượng, khả năng truy xuất nguồn gốc và việc tuân thủ các quy định của nước nhập khẩu. Ngành nông nghiệp từng chứng kiến nhiều trường hợp chỉ một số mã số bị cảnh báo nhưng ảnh hưởng đến uy tín của cả ngành hàng. Vì vậy, việc duy trì và quản lý mã số có ý nghĩa không kém so với quá trình được cấp mã.
Để Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, Bộ NN&MT cho biết sẽ thành lập các tổ công tác phối hợp với Cục Chuyển đổi số và các địa phương triển khai "Chiến dịch 30 ngày", tập trung xử lý dứt điểm những vướng mắc trong công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng.
4 địa phương trọng điểm gồm Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Quảng Ngãi sẽ được lựa chọn triển khai cao điểm, nhằm hỗ trợ địa phương hoàn thiện thủ tục, mở rộng diện tích được cấp mã số và nâng cao hiệu quả quản lý.
Châu Anh







