Công nghệ hiện diện trong từng thủ tục hành chính, phiên chợ vùng cao hay những buổi hướng dẫn người dân sử dụng điện thoại thông minh. Khi cán bộ chủ động thay đổi, người dân mạnh dạn tiếp cận công nghệ, chuyển đổi số mở ra không gian phát triển mới cho nhiều địa phương.
Người dân vùng cao dần quen với “cuộc sống số”
Ở nhiều địa phương miền núi phía Bắc, chuyển đổi số không còn dừng lại ở việc đưa máy tính hay phần mềm vào cơ quan hành chính. Điều đang thay đổi mạnh mẽ hơn là cách làm việc của cán bộ cơ sở và thói quen tiếp cận dịch vụ của người dân.
Tại Tuyên Quang, chuyển đổi số được triển khai theo hướng gắn trách nhiệm cụ thể với từng cá nhân, từng đơn vị. Thay vì các cuộc họp nặng về báo cáo, nhiều địa phương chuyển sang tập trung nhận diện khó khăn, kiểm soát tiến độ và đánh giá hiệu quả thực hiện. Chỉ trong quý I, toàn tỉnh triển khai 255 nhiệm vụ liên quan đến khoa học công nghệ và chuyển đổi số, không có nhiệm vụ quá hạn.
Điểm đáng chú ý là các lớp tập huấn cho cán bộ cơ sở không còn thiên về lý thuyết mà tăng cường thực hành trực tiếp. Từ kỹ năng sử dụng nền tảng số, khai thác dữ liệu đến bảo đảm an toàn thông tin hay bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc đều được đưa vào nội dung đào tạo. Nhờ đó, nhiều cán bộ xã chủ động hơn trong việc hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, tra cứu thông tin hay nộp hồ sơ trên môi trường số.
Ông Bùi Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (Sở KH&CN tỉnh Tuyên Quang) cho biết: “Chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện của công nghệ mà then chốt là câu chuyện của con người. Khi cán bộ làm chủ công cụ số, nền tảng số thì hiệu lực quản lý sẽ thay đổi rõ rệt cả về lượng và chất”.
Không chỉ hệ thống chính quyền, các tổ chức đoàn thể cũng tham gia mạnh mẽ vào quá trình này. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang triển khai các mô hình “Gia đình số”, “Chi hội số”; Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức tập huấn kỹ năng số cho người dân. Đặc biệt, phong trào “Bình dân học vụ số” với gần 4.000 tổ công nghệ số cộng đồng đang trở thành lực lượng gần dân nhất, trực tiếp hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ theo cách dễ hiểu, gần gũi.
Theo bà Âu Thị Mai, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang, chuyển đổi số chỉ có thể bền vững khi người dân thực sự trở thành trung tâm của quá trình này. Mỗi người dân cần trở thành một công dân số, bắt đầu từ những kỹ năng nhỏ gắn với đời sống hàng ngày.

Tại Lạng Sơn, hình ảnh cán bộ biên phòng, đoàn viên thanh niên xuống tận thôn, bản hướng dẫn người dân cài đặt ứng dụng dịch vụ công, định danh điện tử hay thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên quen thuộc. Tại thôn Chi Ma, xã Mẫu Sơn, nơi phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nhiều người lớn tuổi từng e ngại khi tiếp xúc với công nghệ. Nhưng bằng sự kiên trì hướng dẫn của lực lượng biên phòng, người dân dần nhận ra lợi ích thiết thực của môi trường số trong đời sống thường ngày. Ông Trương Xuân Lài, người dân thôn Chi Ma cho biết, nhờ các ứng dụng trên điện thoại thông minh, người dân có thể cập nhật nhanh thông tin thời tiết, chính sách mới hay những cảnh báo liên quan đến an ninh trật tự khu vực biên giới. “Trước đây, nhiều việc phải đi hỏi trực tiếp hoặc chờ cán bộ thông báo, còn bây giờ chỉ cần mở điện thoại là có thể biết thông tin cần thiết”, ông Lài nói.
Không gian số mở thêm cơ hội phát triển mới
Nếu trước đây chuyển đổi số chủ yếu gắn với cải cách hành chính thì nay nhiều địa phương bắt đầu nhìn thấy giá trị kinh tế từ không gian số. Tại xã Tân Tiến, tỉnh Tuyên Quang, mô hình gắn chợ phiên với trung tâm chuyển đổi số cộng đồng đang tạo ra cách làm mới cho kinh tế nông thôn. Các tiểu thương không chỉ bán hàng trực tiếp mà còn học cách quảng bá sản phẩm trên nền tảng số, kết nối khách hàng qua mạng xã hội và livestream bán hàng.
Ở xã Lâm Bình, Tuyên Quang, chuyển đổi số thậm chí mở ra hướng phát triển kinh tế sáng tạo cộng đồng. Cuối tháng 4 vừa qua, địa phương công bố Đề án “Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030”, đồng thời ra mắt sản phẩm trải nghiệm “Một ngày làm YouTuber”.
Từ những video ghi lại chợ phiên, điệu khèn, nghề dệt thổ cẩm hay cảnh lao động thường ngày, người dân bắt đầu kể câu chuyện văn hóa của chính mình trên không gian số. Nhiều lớp học livestream được tổ chức ngay tại bản làng. Các bạn trẻ trực tiếp hướng dẫn bà con quay video, dựng clip, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để quảng bá sản phẩm và bán hàng trực tuyến. Chỉ trong 4 tháng đầu năm, doanh thu từ các nền tảng số như YouTube, TikTok và Facebook tại Lâm Bình ước đạt hơn 46 tỷ đồng. Không chỉ tạo sinh kế mới, cách làm này còn góp phần gìn giữ văn hóa bản địa theo phương thức rất khác: Đồng bào dân tộc thiểu số tự kể câu chuyện của mình bằng chính ngôn ngữ và trải nghiệm của họ.
Trong khi đó, tại Lai Châu, chuyển đổi số được tỉnh xác định là “chìa khóa” để tháo gỡ những điểm nghẽn phát triển của một địa phương miền núi biên giới còn nhiều khó khăn về hạ tầng và khoảng cách địa lý. UBND tỉnh Lai Châu vừa ký kết hàng loạt thỏa thuận hợp tác chuyển đổi số với các doanh nghiệp công nghệ, viễn thông lớn nhằm phát triển hạ tầng số, xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Theo định hướng của tỉnh, chuyển đổi số không chỉ dừng ở số hóa hồ sơ hay cung cấp dịch vụ công trực tuyến mà hướng tới thay đổi toàn diện phương thức quản trị và phục vụ người dân. Các lĩnh vực như giao thông thông minh, cửa khẩu số, nông nghiệp số hay đô thị thông minh được xác định là hướng đi quan trọng để mở rộng không gian phát triển mới cho địa phương vùng cao biên giới.
Ông Lê Minh Ngân, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu cho rằng, công nghệ sẽ khó phát huy hiệu quả nếu cán bộ và người dân không thay đổi tư duy, không chủ động tiếp cận và sử dụng. Chuyển đổi số phải lấy hiệu quả phục vụ người dân làm thước đo thực chất.
Nhưng thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa, hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, kỹ năng số của người dân còn hạn chế, nhất là với người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là lý do nhiều địa phương đang chuyển hướng từ “dạy để biết” sang “hướng dẫn để làm được việc”. Những tổ công nghệ số cộng đồng, những lớp học công nghệ ngay tại thôn, bản hay việc sử dụng tiếng dân tộc để hướng dẫn người dân tiếp cận ứng dụng số đang giúp chuyển đổi số trở nên gần gũi hơn.
Chuyển đổi số ở cơ sở vì thế không phải là cuộc chạy đua về thiết bị hay công nghệ hiện đại. Điều quan trọng hơn là tạo ra sự thay đổi trong cách vận hành của bộ máy và cách người dân tiếp cận cuộc sống. Khi người dân vùng cao có thể bán nông sản qua livestream, thực hiện thủ tục hành chính trên điện thoại hay tiếp cận thông tin chỉ bằng vài thao tác đơn giản, khoảng cách giữa miền núi và thành thị cũng dần được thu hẹp. Và khi công nghệ thực sự đi vào từng nếp sống, chuyển đổi số mới không còn là khẩu hiệu mà trở thành động lực phát triển bền vững từ chính cơ sở.
ĐỨC KIÊN