Bà Pani (64 tuổi) làm giúp việc cho một gia đình suốt 44 năm. Là người gốc Boyolali, tỉnh Trung Java, bà chuyển đến Jakarta khi còn là thiếu niên sau khi nhận được thư từ người anh trai cho biết có một gia đình tìm người giúp việc.
Chủ của bà, bà Tokiko Latuharhary (75 tuổi) khi đó cần người hỗ trợ việc nhà vì cả bà và chồng đều đi làm. Bà Pani dần trở thành người chăm sóc chính cho cả 3 người con của gia đình Latuharhary. "Tôi có thể tiếp tục công việc của mình vì Pani đã đóng vai trò như một người mẹ ở nhà chăm sóc con cái. Tôi có thể hoàn toàn tin tưởng bà ấy trong việc trông nom ngôi nhà, tiền bạc và mọi thứ khác", bà Tokiko nói. Những mối quan hệ như vậy từng khá phổ biến trong tầng lớp trung lưu khá giả ở các đô thị Indonesia, hiện nay trở nên hiếm gặp. Tuy nhiên, câu hỏi về nghề giúp việc gia đình nên được nhìn nhận như thế nào và được đánh giá ra sao lại trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Indonesia hiện có khoảng 4 - 5 triệu lao động giúp việc gia đình cùng hàng triệu người khác làm việc ở nước ngoài. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), số lượng người giúp việc sinh sống tại nhà chủ đã giảm mạnh, từ khoảng 1 triệu người năm 2008 xuống còn 683.000 người vào năm 2015.
"Giới trẻ ngày nay muốn biết chắc rằng họ bắt đầu làm việc lúc nào và kết thúc lúc nào. Vì thế việc sống chung với chủ nhà không còn hấp dẫn nữa", bà Pani nói.

Luật Bảo vệ Người giúp việc gia đình vừa được thông qua sau 22 năm tranh luận được cho sẽ tiếp tục làm thay đổi mối quan hệ giữa chủ nhà và người giúp việc. Thông qua ngày 21/4, đạo luật lần đầu tiên chính thức công nhận người giúp việc gia đình là người lao động, được hưởng thời giờ làm việc hợp lý, ngày nghỉ có lương, bảo hiểm xã hội và hợp đồng lao động bằng văn bản. Các công đoàn và tổ chức bảo vệ quyền lợi người giúp việc hoan nghênh đây là bước tiến cần thiết, đồng thời chỉ ra rằng Philippines đã ban hành đạo luật tương tự từ năm 2013.
TS Ida Ruwaida, giảng viên xã hội học tại Đại học Indonesia cho rằng, đạo luật này phản ánh một sự chuyển đổi văn hóa "phi thường" trong cách xã hội Indonesia nhìn nhận người giúp việc gia đình. Theo bà, nhận thức của xã hội về nghề này có nguồn gốc từ bối cảnh lịch sử và xã hội đặc thù của Indonesia. Tại quê hương bà ở Tây Nusa Tenggara, xã hội từng được phân chia thành tầng lớp "quý tộc" và "phi quý tộc", trong đó những người thuộc tầng lớp thấp hơn thường trở thành người giúp việc cho các gia đình quý tộc. "Mối quan hệ giữa người giúp việc và chủ nhà trước đây không được xem là quan hệ lao động mà giống một mối quan hệ xã hội hơn", bà Ida nói.
Bà Lita Anggraini, điều phối viên Mạng lưới Vận động Quốc gia vì Người giúp việc gia đình thẳng thắn hơn: "Những người hưởng lợi nhiều nhất từ mô hình đó chính là chủ nhà, vì họ có thể yêu cầu người giúp việc làm bất cứ việc gì, vào bất kỳ thời điểm nào".
Theo TS Ida, khi Indonesia hiện đại hóa, người lao động bắt đầu nhìn nhận công việc của mình một cách thực tế hơn, không còn coi đây là công việc mang tính phục vụ nữa mà là một nghề nghiệp thực sự.
Bà Ajeng Astuti (47 tuổi) là một ví dụ như vậy. Bà bắt đầu làm giúp việc từ năm 15 tuổi do áp lực kinh tế. Trong nhiều năm, bà thậm chí không nghĩ mình là một lao động thực thụ. "Nó giống như tôi chỉ đang làm việc nhà bình thường, nhưng ở nhà người khác mà thôi", bà nói. Trong hơn 30 năm làm nghề, bà Ajeng từng trải qua thời gian làm việc kéo dài, không có ngày nghỉ, tiền lương không ổn định, thậm chí bị quấy rối tình dục.
Quan điểm của bà thay đổi vào năm 2014 khi tham gia một sự kiện do Công đoàn Người giúp việc gia đình Sapu Lidi tổ chức. "Tôi nhận ra mình không phải người duy nhất trải qua những tổn thương như vậy. Tôi bắt đầu tự tin hơn và coi công việc của mình là một nghề nghiệp chính đáng", bà nói. Với luật mới, bà hy vọng công chúng cũng sẽ nhìn nhận nghề giúp việc theo cách tương tự. Một số thành viên công đoàn của bà thậm chí còn được chủ nhà chúc mừng khi luật được thông qua. Tuy nhiên, bà có cái nhìn thực tế hơn: "Đó là những người đã may mắn làm việc trong môi trường tốt. Chúng tôi hy vọng luật này sẽ giúp mọi người giúp việc đều có được những người chủ như vậy".
Đối với bà Pani, mô hình cũ cũng mang lại nhiều lợi ích. Bà Tokiko đã tài trợ học phí đại học cho cháu trai bà, còn 3 người con của gia đình Latuharhary nay đều đã trưởng thành, thường xuyên mang quà về cho bà sau mỗi chuyến đi. Tuy nhiên, điều đó cũng đi kèm những đánh đổi. Bà Pani chưa từng kết hôn, dù không thiếu người theo đuổi. Bà hiểu rằng thế hệ phụ nữ trẻ ngày nay có cách tính toán khác: "Họ muốn kết hôn, có gia đình riêng và có thời gian cho bản thân".
Bà Tokiko cũng đồng tình cho rằng mối quan hệ giữa bà và bà Pani được xây dựng trên sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau, nhưng điều đó ngày càng khó tìm thấy. "Ngày nay mọi chuyện đã hoàn toàn khác rồi", bà nói.
Được thông qua ngày 21/4, Luật Bảo vệ Người giúp việc gia đình lần đầu tiên chính thức công nhận người giúp việc gia đình là người lao động, được hưởng thời giờ làm việc hợp lý, ngày nghỉ có lương, bảo hiểm xã hội và hợp đồng lao động bằng văn bản. Các công đoàn và tổ chức bảo vệ quyền lợi người giúp việc hoan nghênh đây là bước tiến cần thiết.
ĐỨC HOÀNG (theo Straits Times)