Từ sân đình, những nhịp múa cổ tiếp tục được trao truyền để di sản không chỉ nằm trong ký ức mà hiện diện trong đời sống thường ngày.
Điệu múa cổ lưu giữ hồn quê
Làng Thượng Liệt, tên nôm là làng Giắng, từ lâu được biết đến với một loại hình múa dân gian độc đáo có lịch sử hàng trăm năm. Theo thần tích, thần sắc được lưu giữ tại địa phương và lời kể của các bậc cao niên, điệu múa giáo cờ, giáo quạt gắn với công chúa Quý Minh, con vua Trần Duệ Tông. Tương truyền, sau khi rời kinh thành về phủ Long Hưng lập ấp, dựng làng, công chúa đã sáng tạo điệu múa dựa theo tích “Chiêu quân cống Hồ” để truyền dạy cho người dân. Điều đặc biệt của giáo cờ, giáo quạt là sự kết hợp giữa múa tập thể, múa đội hình và những động tác múa đôi. Bản múa đầy đủ hiện còn được bảo tồn tới 36 cấp múa, trong đó có nhiều lớp múa công phu như sắc ngũ phương, chèo đò, múa rồng... xen kẽ là những động tác mô phỏng đời sống dân gian như chim bay, cò bay, chao tép, vạt tôm, chèo thuyền.
Tên gọi giáo cờ, giáo quạt bắt nguồn từ chính đạo cụ của điệu múa. Trong quá trình biểu diễn, các cô gái liên tục đổi vị trí cờ và quạt giữa hai tay, được gọi là “tráo cờ, tráo quạt”. Theo cách phát âm của người địa phương, từ “tráo” đọc chệch thành “giáo”, tạo nên tên gọi đặc trưng của điệu múa. Sự đan xen giữa cờ và quạt khiến điệu múa vừa khỏe khoắn, mạnh mẽ, vừa uyển chuyển, duyên dáng. Phía sau những động tác tưởng chừng đơn giản là một hệ thống bài bản với nhiều đội hình, nhịp điệu và động tác được truyền lại qua nhiều thế hệ.

Từ sân đình vươn ra thế giới
Sức sống của giáo cờ, giáo quạt được thể hiện rõ qua hành trình đi từ không gian làng quê đến những sân khấu lớn. Năm 1960, 12 cô gái làng Giắng được lựa chọn tham gia hội diễn văn nghệ tại Hà Nội và giành Huy chương Vàng. Việc đưa giáo cờ, giáo quạt ra khỏi sân đình mở ra cơ hội để điệu múa được biết đến ở nhiều địa phương. Không dừng lại ở những sân khấu trong nước, các nghệ nhân làng Giắng còn mang điệu múa đến với công chúng ở nước ngoài. Nghệ nhân Bùi Thị Dược từng biểu diễn giáo cờ, giáo quạt tại Pháp, Bỉ, Bồ Đào Nha… Qua những chuyến đi ấy, một loại hình nghệ thuật dân gian của vùng quê Hưng Yên có thêm cơ hội giới thiệu với bạn bè quốc tế và cộng đồng người Việt xa quê.
Giáo cờ, giáo quạt đã được Bộ VH-TT&DL đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ tháng 9/2018. Đây là sự ghi nhận đối với giá trị lịch sử, văn hóa và sức sống của loại hình nghệ thuật dân gian này. Những năm gần đây, địa phương đã quan tâm hơn đến việc truyền dạy giáo cờ, giáo quạt. Các câu lạc bộ được thành lập, những nghệ nhân và người am hiểu văn hóa làng trực tiếp hướng dẫn thế hệ trẻ. Một số hoạt động ngoại khóa tại trường học cũng tạo cơ hội để học sinh tiếp cận với điệu múa truyền thống.
Cùng với mở rộng lực lượng kế cận, việc bảo tồn những yếu tố cốt lõi của điệu múa cũng đặc biệt quan trọng. Các cấp múa, nhịp trống, đội hình, cách sử dụng đạo cụ và ý nghĩa của từng lớp múa cần tiếp tục được sưu tầm, ghi chép, số hóa và truyền dạy có hệ thống.
Bảo tồn giáo cờ, giáo quạt vì thế không có nghĩa là giữ điệu múa trong một không gian khép kín. Di sản cần được đưa vào trường học, lễ hội, các chương trình văn hóa phù hợp và những hoạt động quảng bá du lịch cộng đồng, nhưng mỗi lần xuất hiện ở không gian mới vẫn cần giữ được cái cốt của điệu múa. Từ sân đình làng Giắng, những lá cờ ngũ sắc và chiếc quạt giấy đã nhiều lần đi xa. Nhưng cội nguồn của giáo cờ, giáo quạt vẫn nằm trong tiếng trống hội, trong ký ức của những người phụ nữ làng quê và trong những bước chân được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
HỒNG THÚY