Các nghị quyết trải rộng từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, xây dựng và thi hành pháp luật đến phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, bảo đảm an ninh năng lượng, đột phá giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân và phát triển văn hóa.
Nếu nhìn riêng lẻ, đây là những quyết sách cho từng lĩnh vực. Nhưng đặt trong một chỉnh thể, 9 nghị quyết đang tạo nên một hệ sinh thái chính sách mới, trong đó thể chế giữ vai trò “hạ tầng mềm”, kết nối các nguồn lực và mở đường cho mô hình phát triển mới của Việt Nam.
Cuối năm 2024, Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành, mở đầu cho một chuỗi quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị trong giai đoạn mới.
Tiếp đó là Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Các nghị quyết được ban hành trong khoảng thời gian rất ngắn nhưng không phải những mảnh ghép rời rạc. Tất cả đều cùng hướng tới một câu hỏi lớn: Việt Nam phải chuẩn bị những gì để bước vào một giai đoạn phát triển mới với tốc độ cao hơn, chất lượng cao hơn và sức chống chịu tốt hơn?

Và câu trả lời được thể hiện khá rõ qua cấu trúc của 9 nghị quyết: Nghị quyết 57 mở đường cho động lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết 59 mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế. Nghị quyết 66 cải cách thể chế, tạo nền tảng pháp lý cho các động lực phát triển. Nghị quyết 68 đặt khu vực kinh tế tư nhân vào vị trí động lực quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết 10 mở rộng và nâng chất lượng nguồn lực quốc tế thông qua phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết 70 bảo đảm nền tảng năng lượng cho tăng trưởng. Nghị quyết 71 chuẩn bị nguồn nhân lực và nền tảng tri thức. Nghị quyết 72 hướng tới một nguồn lực căn bản hơn cả: sức khỏe và chất lượng con người. Nghị quyết 80 bổ sung nền tảng văn hóa, sức mạnh nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia. Còn Nghị quyết 66 đặt vào giữa toàn bộ quá trình ấy một vấn đề có tính nền tảng khiến câu chuyện về thể chế trở nên đặc biệt quan trọng.
Thể chế mở đường
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Đặc biệt, Nghị quyết đặt thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết và cần hoàn thiện, đi trước một bước. Điều này cho thấy một thay đổi rất đáng chú ý về nhận thức.
Nếu Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu thể chế phải đi trước khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thì Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 đã trực tiếp xác lập một chương trình cải cách sâu rộng đối với chính công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Đặc biệt, Nghị quyết đặt thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết và cần hoàn thiện, đi trước một bước. Điều này cho thấy một thay đổi rất đáng chú ý về nhận thức.
Nghị quyết 66 xác định đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn mới, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Điểm quan trọng nhất không nằm ở việc “làm thêm luật”, mà ở việc thay đổi cách làm luật. Pháp luật phải xuất phát từ thực tiễn, giải quyết những vấn đề của thực tiễn và được đánh giá sau khi đi vào cuộc sống. Chính sách phải được xây dựng trên cơ sở bằng chứng, tham vấn thực chất và đánh giá tác động đầy đủ.
Đặc biệt, pháp luật phải tạo ra không gian cho phát triển thay vì biến mọi hoạt động kinh tế - xã hội thành những thủ tục xin - cho.
Đến tháng 3/2026, tại hội nghị sơ kết triển khai Nghị quyết 66, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý Nguyễn Văn Cương đánh giá Nghị quyết 66 đã thực sự trở thành “lời hiệu triệu” cho một cuộc cải cách thể chế sâu rộng, từng bước đưa thể chế từ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Nếu thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, tháo gỡ thể chế sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa tới tất cả các lĩnh vực khác. Một quy định thông thoáng hơn về đầu tư có thể giải phóng dòng vốn. Một cơ chế phù hợp hơn về khoa học và công nghệ có thể đưa nghiên cứu ra thị trường. Một quy trình minh bạch về đất đai có thể giải phóng nguồn lực đất đai. Một cơ chế phân cấp rõ ràng có thể rút ngắn thời gian xử lý công việc. Một quy định bảo vệ tốt hơn quyền tài sản có thể củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
Bởi vậy, cải cách thể chế có hiệu ứng giống như tháo nút thắt trên một hệ thống đường ống: khi điểm nghẽn được giải quyết, nhiều dòng chảy khác cùng được khơi thông.
Một minh chứng rõ nét cho mối liên hệ giữa thể chế và động lực tăng trưởng là Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Nghị quyết xác định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế và đặt mục tiêu đến năm 2030 khu vực này trở thành một động lực quan trọng nhất, phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đóng góp khoảng 55-58% GDP.
Đây không đơn thuần là một chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Đằng sau Nghị quyết 68 là một sự thay đổi quan trọng về tư duy phát triển: Nhà nước không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tồn tại mà phải kiến tạo môi trường để doanh nghiệp lớn mạnh.
Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản được bảo vệ, khả năng tiếp cận bình đẳng với vốn, đất đai, công nghệ, thông tin và các nguồn lực khác. Quan trọng không kém là cách ứng xử của bộ máy công quyền với doanh nghiệp phải thay đổi theo hướng đồng hành, phục vụ và giải quyết vấn đề.
Ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định, Nghị quyết 68 là một thông điệp chính trị mạnh mẽ, trong đó việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế có ý nghĩa đặc biệt với cộng đồng doanh nghiệp. Ông cũng chỉ ra những điểm nghẽn lâu nay của doanh nghiệp tư nhân trong tiếp cận vốn và nguồn lực và cho rằng cải cách thể chế phải đi cùng việc tạo sân chơi minh bạch hơn.
PGS, TS Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cũng đánh giá, Nghị quyết 68 là bước ngoặt lịch sử, thể hiện sự công nhận toàn diện đối với kinh tế tư nhân.
Nhưng để Nghị quyết 68 thực sự trở thành động lực tăng trưởng, điều quan trọng nhất vẫn là biến tinh thần của nghị quyết thành một môi trường thể chế có thể cảm nhận được trong từng quyết định đầu tư, từng thủ tục hành chính và từng tương tác giữa doanh nghiệp với cơ quan công quyền. Nói cách khác, niềm tin của doanh nghiệp chính là một trong những thước đo của chất lượng thể chế.

Cùng với việc khơi thông nguồn lực trong nước, Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mở thêm một hướng quan trọng: nâng chất lượng dòng vốn ngoại. Nghị quyết đánh dấu bước chuyển từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững, lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm những tiêu chí quan trọng. Qua đó, nguồn lực quốc tế không chỉ bổ sung vốn mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng liên kết với khu vực kinh tế trong nước.
Nếu Nghị quyết 68 hướng vào nguồn lực nội sinh, thì Nghị quyết 10 mở thêm một hướng quan trọng từ nguồn lực quốc tế; còn Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới mở rộng không gian phát triển ra bên ngoài.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, cạnh tranh chiến lược gia tăng và các tiêu chuẩn mới về công nghệ, môi trường, lao động, dữ liệu ngày càng ảnh hưởng đến thương mại quốc tế, hội nhập không còn đơn thuần là câu chuyện mở cửa thị trường. Mục tiêu của hội nhập là tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; đồng thời nâng cao sức mạnh tổng hợp, vai trò, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.
Điều đó đặt ra một yêu cầu khác đối với thể chế: Phải đủ tương thích với các chuẩn mực quốc tế, nhưng đồng thời phải bảo vệ và phát huy được lợi ích quốc gia.
Một doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu không thể chỉ dựa vào lợi thế nhân công giá rẻ. Họ cần đáp ứng tiêu chuẩn về chất lượng, môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc, quản trị và công nghệ. Vì thế, hội nhập quốc tế quay trở lại đặt ra bài toán thể chế trong nước. Một thể chế minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo sẽ giúp Việt Nam hấp thụ tốt hơn dòng vốn, công nghệ, tri thức và các cơ hội thị trường từ bên ngoài.
Xây dựng nền tảng cho tương lai
Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh không thể thiếu năng lượng.
Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt vấn đề năng lượng trong mối quan hệ trực tiếp với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Khi công nghiệp phát triển, nhu cầu điện tăng. Khi dữ liệu và trí tuệ nhân tạo phát triển, các trung tâm dữ liệu tiêu thụ năng lượng ngày càng lớn. Khi Việt Nam thực hiện chuyển đổi xanh, cơ cấu nguồn điện và công nghệ năng lượng phải thay đổi. Như vậy, năng lượng không chỉ là câu chuyện cung cấp điện hôm nay mà là câu chuyện về mô hình tăng trưởng của vài thập niên tới. Thể chế năng lượng vì thế phải giải quyết đồng thời nhiều mục tiêu: bảo đảm an ninh năng lượng, tạo điều kiện cho đầu tư, thúc đẩy thị trường cạnh tranh, phát triển năng lượng tái tạo, chuyển đổi xanh và sử dụng năng lượng hiệu quả.
Nếu năng lượng là “nhiên liệu” của nền kinh tế, thì con người mới là nguồn lực quyết định khả năng sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực khác.
Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định giáo dục và đào tạo tiếp tục là quốc sách hàng đầu, hướng tới xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, tạo cơ hội học tập công bằng và đáp ứng nhu cầu xã hội. Đặt Nghị quyết 71 cạnh Nghị quyết 57 sẽ thấy rõ một mối liên hệ quan trọng. Không thể có một nền kinh tế dẫn đầu về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay các ngành công nghiệp mới nếu không có nguồn nhân lực đủ trình độ. Nhưng đào tạo nhân lực không thể chỉ là tăng số lượng sinh viên hay mở thêm ngành học. Giáo dục phải thay đổi để đáp ứng một thị trường lao động thay đổi nhanh. Người lao động tương lai cần khả năng học tập suốt đời, tư duy sáng tạo, năng lực số, ngoại ngữ, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế và thích ứng với những nghề nghiệp có thể chưa tồn tại đầy đủ ở thời điểm hiện nay.
Bởi vậy, thể chế giáo dục cũng phải chuyển từ tư duy quản lý đầu vào sang chú trọng chất lượng, hiệu quả và năng lực đầu ra; từ mô hình đào tạo tương đối khép kín sang một hệ thống mở, liên thông và gắn chặt hơn với nhu cầu phát triển.
Điểm đến cuối cùng vẫn là con người
Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân hoàn thiện thêm một mảnh ghép rất quan trọng của “hệ sinh thái phát triển”.
Nếu khoa học - công nghệ là động lực, doanh nghiệp là lực lượng sản xuất, năng lượng là nền tảng vật chất và giáo dục là nền tảng tri thức thì sức khỏe nhân dân là điều kiện để con người có thể học tập, lao động và thụ hưởng thành quả phát triển.
Nghị quyết 72 đặt yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị ngành y tế, tăng cường trách nhiệm giải trình, cải cách thủ tục hành chính và phân cấp, phân quyền, xây dựng một hệ thống đủ năng lực để người dân được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng, phòng bệnh được chú trọng hơn chữa bệnh, nguồn lực xã hội được huy động hiệu quả và các cơ sở y tế có điều kiện nâng cao chất lượng phục vụ.
Nghị quyết 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã hoàn thiện thêm một mảnh ghép rất quan trọng của “hệ sinh thái phát triển”.
Nếu khoa học - công nghệ là động lực, doanh nghiệp là lực lượng sản xuất, năng lượng là nền tảng vật chất và giáo dục là nền tảng tri thức thì sức khỏe nhân dân là điều kiện để con người có thể học tập, lao động và thụ hưởng thành quả phát triển.
Nhìn rộng hơn, mục tiêu cuối cùng của tăng trưởng vẫn không phải chỉ là những con số GDP. Tăng trưởng phải chuyển hóa thành chất lượng cuộc sống, thành tuổi thọ, sức khỏe, tri thức, việc làm và cơ hội phát triển của mỗi người dân.
Và để những động lực kinh tế, khoa học, công nghệ và nguồn lực con người được chuyển hóa thành sức mạnh phát triển bền vững, Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam bổ sung một nền tảng có ý nghĩa đặc biệt: văn hóa. Nghị quyết xác định văn hóa Việt Nam là nguồn lực nội sinh quan trọng, hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam; phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng của phát triển nhanh, bền vững. Văn hóa vì thế không đứng ngoài bài toán phát triển kinh tế mà trở thành một bộ phận của sức mạnh nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia.
Thái An