Tròn 81 năm sau ngày đất nước giành độc lập, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Trong hành trình ấy, TPHCM tiếp tục mang trên mình sứ mệnh tiên phong, không chỉ là đầu tàu kinh tế mà còn vươn tầm siêu đô thị quốc tế.
Sau khi được mở rộng không gian phát triển, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 09/NQ-TW về xây dựng và phát triển TPHCM trong kỷ nguyên mới, cũng như dự án Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng tạo thêm cơ chế thuận lợi, mở đường để các đô thị lớn, đặc biệt là TPHCM, chủ động hơn trong quá trình phát triển…

Với những bước ngoặt này, thành phố mang tên Bác đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá mạnh mẽ, từ trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm đổi mới sáng tạo đến cực tăng trưởng có sức lan tỏa của cả nước, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ XXI.
Từ đầu tàu kinh tế đến siêu đô thị
Những ngày cuối tháng 8, TPHCM cấp tập triển khai nhiều cuộc gặp gỡ, xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước để huy động vốn cho các dự án hạ tầng đô thị quy mô lớn.
Trước đó, trong buổi tiếp ông Vikram Kumar, Giám đốc Khu vực phụ trách Cơ sở hạ tầng và Tài nguyên thiên nhiên khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) vào giữa tháng 8, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Công Vinh cho biết, thành phố kỳ vọng tăng cường hợp tác với IFC trong phát triển hạ tầng, tài chính xanh, giao thông thông minh, kinh tế biển và xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TPHCM.
Theo lãnh đạo thành phố, một trọng tâm hợp tác được TPHCM đề xuất là phát triển hệ thống đường sắt đô thị. Thành phố đặt mục tiêu đạt khoảng 200km metro vào năm 2030, 462km vào năm 2035 và 700km với 19 tuyến vào năm 2045. Thành phố mong muốn IFC hỗ trợ xây dựng các cơ chế tài chính sáng tạo, kết hợp đầu tư công, trái phiếu địa phương và vốn tư nhân; kết nối với các nhà đầu tư tổ chức quốc tế; đồng thời chia sẻ kinh nghiệm từ các dự án metro trong khu vực.
Trong lĩnh vực cảng biển và kinh tế biển, TPHCM kỳ vọng IFC hỗ trợ thu hút nguồn vốn quốc tế cho Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, trung tâm logistics Cái Mép Hạ và hệ thống cảng thông minh tích hợp theo hướng xanh, số hóa và bền vững…
Sau sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TPHCM trở thành một siêu đô thị với diện tích hơn 6.772km², dân số hơn 14 triệu người và GRDP năm 2025 ước đạt 123 tỷ USD. Không gian phát triển mới tạo sự kết nối giữa trung tâm tài chính, dịch vụ của TPHCM, trung tâm công nghiệp FDI của Bình Dương và hệ thống cảng biển nước sâu của Bà Rịa - Vũng Tàu.
Cùng với sự mở rộng về không gian địa lý, trong giai đoạn 2026 - 2030, tổng nhu cầu nguồn lực đầu tư phát triển hạ tầng giao thông và hạ tầng kỹ thuật của thành phố dự kiến lên tới khoảng 3,17 triệu tỷ đồng, trong khi khả năng cân đối nguồn vốn ngân sách khoảng 975.120 tỷ đồng, chỉ đáp ứng khoảng 31% nhu cầu. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải huy động mạnh mẽ các nguồn vốn tư nhân và quốc tế.
TS Lê Bá Chí Nhân, chuyên gia kinh tế nhận định, điều quan trọng nhất đối với TPHCM sau sáp nhập không phải là lớn hơn về địa giới, mà phải mạnh hơn về năng lực phát triển. Việc hợp nhất TPHCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu đã tạo ra một không gian kinh tế có tính bổ trợ rất cao: Một bên là trung tâm tài chính, dịch vụ và đổi mới sáng tạo; một bên là nền công nghiệp, sản xuất quy mô lớn; một bên là cảng biển, logistics và kinh tế biển. Đây chính là cấu trúc mà nhiều đô thị lớn trên thế giới phải mất hàng chục năm để hình thành.
Vấn đề hiện nay là phải chuyển lợi thế về quy mô thành lợi thế về năng suất và giá trị gia tăng. TPHCM cần tập trung vào các đột phá.

Thứ nhất, đột phá về thể chế và quản trị phát triển. Tinh thần của các nghị quyết về phát triển TPHCM là đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, thành phố phải mạnh dạn phân cấp, phân quyền, rút ngắn thủ tục, chuyển từ tư duy “quản lý cái đang có” sang “kiến tạo cái chưa có”, tạo không gian để doanh nghiệp và người dân phát huy nguồn lực.
Thứ hai, tái cấu trúc không gian kinh tế theo chuỗi giá trị. Không nên phát triển công nghiệp, tài chính, logistics, công nghệ và đô thị như những lĩnh vực riêng rẽ. Phải kết nối sản xuất với cảng biển, logistics với thương mại quốc tế, tài chính với đổi mới sáng tạo và dữ liệu.
Theo PGS, TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách Đại học Quốc gia TPHCM, để biến lợi thế về quy mô và không gian thành động lực tăng trưởng thực chất, TPHCM cần tập trung vào các đột phá mang tính nền tảng.
Thứ nhất, đột phá về hạ tầng kết nối và tổ chức không gian phát triển. Không gian phát triển mới chỉ thực sự có giá trị khi các cực tăng trưởng được kết nối bằng một hệ thống giao thông đồng bộ và thông suốt. Vì vậy, cần nhìn hạ tầng giao thông không chỉ dưới góc độ giải quyết ùn tắc, mà quan trọng hơn, phải xem đây là hạ tầng của chuỗi cung ứng và nền tảng nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố.
Cùng với đó, mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) cần được đẩy mạnh như một công cụ tổ chức lại không gian phát triển: Tập trung dân cư, dịch vụ và hoạt động kinh tế quanh các đầu mối giao thông. Đồng thời khai thác giá trị gia tăng từ đất đai để tái đầu tư cho phát triển hạ tầng.
Thứ hai, đột phá về thể chế kiến tạo phát triển. Sau sáp nhập, TPHCM có không gian phát triển lớn hơn nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu quản trị phức tạp hơn. Vì vậy, dự thảo Luật Phát triển đô thị sẽ trở thành nền tảng pháp lý vững chắc để thành phố tiếp tục phát huy vai trò kiến tạo phát triển.
“Thông qua sự tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, giúp thành phố chủ động hơn trong quy hoạch, tổ chức không gian, đầu tư hạ tầng và huy động nguồn lực. Khi đó, thể chế sẽ trở thành một nguồn lực giúp TPHCM nhanh chóng chuyển hóa lợi thế về không gian và nguồn lực thành các dự án, dòng vốn và năng lực sản xuất mới, củng cố vai trò đầu tàu và tạo động lực tăng trưởng cho toàn vùng”, ông Tình nêu.
Cơ chế đặc thù gắn với chỉ tiêu cụ thể, đo lường được
Mỗi cơ chế đặc thù phải gắn với một hệ thống chỉ tiêu cụ thể và có thể đo lường được. Nếu mục tiêu là rút ngắn thủ tục thì phải đo được thời gian xử lý thực tế; nếu mục tiêu là đẩy nhanh đầu tư công thì phải theo dõi tiến độ và hiệu quả. Nếu phát triển FTZ (khu thương mại tự do) thì phải đánh giá bằng vốn đầu tư thu hút, giá trị xuất khẩu, việc làm và giá trị gia tăng tạo ra.
Cơ chế chỉ thực sự thành công khi có thể chứng minh bằng kết quả phát triển cụ thể. Khi đó, mục tiêu GRDP tăng 10 - 11%/năm không chỉ là một con số phải đạt, mà có thể trở thành kết quả của một mô hình phát triển mới dựa trên năng suất cao, đổi mới sáng tạo, kết nối toàn cầu và sức lan tỏa tới toàn vùng và cả nước.
Cú hích từ trung tâm tài chính quốc tế
“Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TPHCM phải trở thành nơi huy động và phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế, đặc biệt cho công nghệ cao, kinh tế xanh và các doanh nghiệp có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”, TS Nhân nói.
Thực tế, điểm nhấn của TPHCM thời gian qua phải kể đến là những bước đi nhanh chóng và mạnh mẽ của Trung tâm Tài chính Quốc tế.
Chỉ sau khoảng 6 tháng hoạt động kể từ ngày chính thức ra mắt, tổng vốn cam kết từ các nhà đầu tư, đối tác trong và ngoài nước vào Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC) đã đạt khoảng 20 tỷ USD; các cấu phần nền tảng như tài chính hàng không, hệ sinh thái tài chính hàng hải từng bước được hình thành. Theo Chỉ số Trung tâm Tài chính toàn cầu (GFCI 39) năm 2026, TPHCM đã tăng tới 11 bậc, xếp thứ 84/120 trung tâm tài chính toàn cầu và đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á.
PGS, TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch VIFC-HCMC cho hay, TPHCM không đơn thuần xây dựng thêm một khu tài chính, mà kiến tạo một hạ tầng thị trường mới để kết nối nguồn vốn, định chế, công nghệ và nhân tài quốc tế với nhu cầu phát triển của Việt Nam.

Việt Nam đang bước vào một chu kỳ phát triển mới với nhu cầu rất lớn về vốn dài hạn cho hạ tầng, đô thị, năng lượng, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Trong 6 tháng đầu năm, GDP Việt Nam tăng 8,18%, GRDP của TPHCM tăng 8,55%. Trong bối cảnh đó, VIFC-HCMC phải giải một bài toán rất cụ thể: Làm thế nào để dòng vốn quốc tế đến Việt Nam thuận lợi hơn, chi phí cạnh tranh hơn, với nhiều sản phẩm tài chính hơn và trong một môi trường mà nhà đầu tư quốc tế có thể tin tưởng.
“Chúng tôi không đặt mục tiêu xây dựng một Singapore hay Hong Kong (Trung Quốc) thứ hai. VIFC-HCMC phải tìm được vị trí riêng trong mạng lưới tài chính khu vực. Lợi thế là trở thành cửa ngõ tài chính cho một nền kinh tế hơn 100 triệu dân, có tốc độ tăng trưởng cao, nhu cầu đầu tư rất lớn và ngày càng hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”, ông Huân nói.
VIFC-HCMC sẽ tập trung vào quản lý quỹ và tài sản, thị trường vốn và trái phiếu quốc tế, tài chính xanh, fintech (công nghệ tài chính) và sandbox (thử nghiệm có kiểm soát), tài sản số, tài chính hàng không, tài chính hàng hải cùng các hoạt động ngân hàng và thanh toán quốc tế. Đặc biệt, thành công của VIFC-HCMC không chỉ được đo bằng số lượng thành viên hay những công trình được xây dựng, mà phải được đo bằng dòng vốn mới được đưa vào Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam huy động được vốn quốc tế, các sản phẩm mới được hình thành, các định chế toàn cầu hiện diện và đội ngũ nhân lực Việt Nam trưởng thành theo chuẩn quốc tế.
Theo các chuyên gia, TPHCM cần đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao vào trung tâm của chiến lược tăng trưởng. Trung tâm Tài chính Quốc tế cần được gắn với hệ sinh thái fintech, tài chính xanh, thị trường vốn và các công cụ tài chính mới. Đồng thời tăng cường liên kết giữa khu vực tài chính, các trung tâm R&D (nghiên cứu và phát triển), trường đại học, doanh nghiệp công nghệ cao. Khi vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường được kết nối trong cùng một hệ sinh thái, thành phố mới có thể chuyển từ lợi thế quy mô lớn sang năng suất cao.
Song song đó, để trở thành cực tăng trưởng mới có sức lan tỏa với khu vực trong nước và quốc tế, TPHCM cũng đang đẩy mạnh tiến độ triển khai khu thương mại tự do (FTZ), Trung tâm công nghệ chiến lược với những cơ chế đặc thù từ các nghị quyết, dự luật mới.
Dù vậy, thách thức lớn nhất của TPHCM hiện nay hiện nay không còn nằm ở việc thiếu cơ chế, mà ở năng lực chuyển hóa cơ chế thành kết quả phát triển. Một cơ chế đặc thù chỉ có ý nghĩa khi tạo ra sự khác biệt về tốc độ ra quyết định, chi phí thực hiện, khả năng huy động nguồn lực và cuối cùng là năng lực sản xuất mới.
“Đối với FTZ, cơ chế một cửa phải là thực chất, không chỉ dừng ở một đầu mối tiếp nhận hồ sơ mà phải bảo đảm xử lý đồng bộ các thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, hải quan và logistics. Nếu FTZ chỉ có ưu đãi về cơ chế nhưng nhà đầu tư vẫn phải đi qua một hệ thống thủ tục phân mảnh, thì lợi thế thể chế sẽ không thể chuyển thành lợi thế cạnh tranh”, ông Tình nhấn mạnh.
Hệ sinh thái có khả năng cộng hưởng, tránh “ốc đảo” độc lập
TPHCM hiện có những “đòn bẩy” rất đặc biệt: Trung tâm Tài chính Quốc tế, FTZ gắn với Cái Mép Hạ, không gian công nghiệp - logistics - kinh tế biển mới và các cơ chế đặc thù. Chính thành phố cũng xác định năm nay phải huy động trên 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Lúc này, phải chuyển các động lực tăng trưởng mới từ những “điểm sáng riêng lẻ” thành một hệ sinh thái phát triển có khả năng cộng hưởng. Các FTZ, Trung tâm Tài chính Quốc tế, TOD, khu công nghệ cao, trung tâm logistics và hệ thống cảng biển không nên được triển khai như những dự án độc lập, mà phải được đặt trong một chiến lược không gian kinh tế thống nhất. Khi đó, FTZ không chỉ tạo ra hoạt động thương mại; Trung tâm Tài chính Quốc tế không chỉ cung cấp dịch vụ tài chính; TOD không chỉ giải quyết bài toán giao thông.
Chuyên gia của Viện Phát triển chính sách Đại học Quốc gia TPHCM nói rằng mỗi thiết chế phải trở thành đầu vào và động lực của thiết chế khác, cùng tạo ra dòng chảy liên tục của vốn, công nghệ, hàng hóa, nhân lực và thị trường. Khi các yếu tố này được kết nối, thành phố mới có thể hình thành những cực tăng trưởng có sức lan tỏa, thay vì những “ốc đảo tăng trưởng” tồn tại độc lập.
Ở góc nhìn khác, TSKH Trần Quang Thắng, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TP HCM nhận định, một trong những bước đi TPHCM cần làm là tăng tốc là nâng cấp năng lực quản trị siêu đô thị. Điều này đòi hỏi bộ máy quản lý phải chuyển từ tư duy phản ứng sang tư duy dự báo, từ quản trị phân tán sang điều phối tích hợp, từ xử lý từng việc sang quản lý bằng dữ liệu, mục tiêu và kết quả.
Khi thể chế, hạ tầng, công nghệ, nguồn nhân lực và liên kết vùng được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, TPHCM mới có thể tạo ra nhịp phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn, mạnh mẽ hơn nhưng bao trùm hơn.
Đồng thời, phải chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào đất đai, vốn và mở rộng quy mô sang tăng trưởng dựa trên công nghệ, dữ liệu, chất lượng nguồn nhân lực và giá trị gia tăng.
“Phát triển TPHCM không còn là câu chuyện riêng của một thành phố, mà là bài toán chiến lược của quốc gia trong cạnh tranh phát triển. Khi được trao cơ chế tương xứng với vai trò, được vận hành bằng tư duy quản trị hiện đại và được thúc đẩy bằng khát vọng đổi mới, thành phố có đủ điều kiện để vươn lên thành cực tăng trưởng của Việt Nam và khu vực. Điều quan trọng là phải biến những phác thảo đột phá thành hành động thể chế cụ thể, để khơi mở đầy đủ tiềm năng của một đô thị đặc biệt trong kỷ nguyên mới”, TSKH Trần Quang Thắng nói.
Sau khi được mở rộng không gian phát triển, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 09/NQ-TW về xây dựng và phát triển TPHCM trong kỷ nguyên mới, cũng như dự án Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng tạo thêm cơ chế thuận lợi, mở đường để các đô thị lớn, đặc biệt là TPHCM, chủ động hơn trong quá trình phát triển…
THÁI PHƯƠNG