Chủ động thích ứng với sức ép đơn hàng
Tại TPHCM, ông Hồ Phi Hải, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nhựa Tiền Phong phía Nam cho biết, doanh nghiệp đang tập trung đầu tư thêm thiết bị, đồng thời định hướng phát triển các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường. Đây được xem là hướng đi nhằm vừa nâng cao năng lực sản xuất, vừa đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Tại khu vực công nghiệp phía bắc TPHCM, nhu cầu tuyển dụng cũng gia tăng theo đơn hàng và kế hoạch mở rộng sản xuất. Công ty TNHH Rochdale Spears có nhu cầu tuyển khoảng 500 lao động phổ thông và lao động có tay nghề.
Tuy nhiên, trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, tăng sản lượng không còn là giải pháp duy nhất. Doanh nghiệp phải đồng thời tối ưu quy trình, đẩy mạnh tự động hóa, phát triển sản phẩm mới và nâng cao năng lực quản trị để giảm chi phí, cải thiện hiệu quả từng đơn hàng.
Đối với ngành dệt may, tình hình đơn hàng năm 2026 nhìn chung vẫn tích cực, tạo điều kiện để nhiều doanh nghiệp duy trì sản xuất đến cuối năm. Theo Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex), 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần đạt 9.494 tỷ đồng, tăng 9,2% so cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế đạt 930,1 tỷ đồng, tăng 39,5%. Kết quả này tạo cơ sở để Tập đoàn hướng tới hoàn thành, thậm chí hoàn thành sớm các chỉ tiêu kinh doanh năm.
Dẫu vậy, áp lực về hiệu quả đơn hàng ngày càng rõ nét. Khách hàng có xu hướng yêu cầu giảm giá, rút ngắn thời gian giao hàng, trong khi chi phí đầu vào và logistics chưa giảm tương ứng. Cùng với đó, kế hoạch đặt hàng năm 2027 vẫn chưa thực sự rõ ràng, khiến doanh nghiệp phải thận trọng trong việc mở rộng sản xuất.

Tại Công ty TNHH Tổng công ty Dệt May miền Nam - Vinatex (VSC), nguồn hàng sản xuất được bảo đảm đến hết tháng 9 và lượng đơn hàng hiện có đủ để triển khai đến hết quý IV. Với những đơn hàng cần giao gấp, doanh nghiệp phải tổ chức tăng ca 2 - 3 ngày/tuần. Tuy nhiên, từ cuối tháng 7, VSC từng bước hạn chế tăng ca nhằm ổn định sản xuất, bảo đảm sức khỏe và thu nhập bền vững cho người lao động. Điều này cho thấy bài toán của doanh nghiệp không chỉ là chạy đua về sản lượng mà còn phải cân đối giữa tiến độ, chi phí, năng suất và khả năng duy trì lực lượng lao động.
Vốn phải đến đúng thời điểm
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp cận tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Văn bản số 7125/NHNN-TD, yêu cầu các ngân hàng thương mại triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và DNNVV.
Theo đó, các ngân hàng được khuyến khích chủ động tiết giảm chi phí, cân đối nguồn lực để thiết kế các chương trình, sản phẩm tín dụng phù hợp, qua đó đồng hành, chia sẻ với doanh nghiệp, nhất là khu vực DNNVV.
Đến ngày 24/8, 12 ngân hàng thương mại đã đăng ký tham gia chương trình với tổng quy mô khoảng 408.000 tỷ đồng. Trong đó, 4 ngân hàng thương mại nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank) đã đăng ký tổng quy mô 220.000 tỷ đồng.
Nguồn vốn tín dụng dành cho khu vực doanh nghiệp cũng đã được mở rộng trước thời điểm chương trình được triển khai. Đến ngày 31/7, dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp đạt hơn 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm 53,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế; riêng dư nợ đối với DNNVV đạt hơn 4 triệu tỷ đồng.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi, việc các ngân hàng triển khai những gói tín dụng quy mô lớn dành cho DNNVV, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh thuộc các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế là tín hiệu tích cực. Không chỉ trực tiếp góp phần giảm chi phí vốn, dòng tín dụng này còn củng cố niềm tin của thị trường vào triển vọng phục hồi và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, với DNNVV, vấn đề không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở thời điểm tiếp cận vốn. Một đơn hàng mới, hợp đồng xuất khẩu hay nhu cầu nhập nguyên liệu có thể phát sinh trong thời gian rất ngắn. Nếu quá trình vay vốn kéo dài, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ cơ hội kinh doanh dù mức lãi suất hấp dẫn.
Theo TS Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam, một trong những rào cản quan trọng là nhiều doanh nghiệp chưa có hệ thống dữ liệu đủ tin cậy để chứng minh năng lực kinh doanh với ngân hàng và nhà đầu tư. Không ít doanh nghiệp có khách hàng, đơn hàng, dòng tiền và năng lực sản xuất thực tế nhưng thiếu dữ liệu được chuẩn hóa.
Thực tế này đặt ra yêu cầu đổi mới cả từ phía doanh nghiệp và ngân hàng. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa thông tin, xây dựng hệ thống dữ liệu về doanh thu, dòng tiền, đơn hàng và hoạt động sản xuất. Đây không chỉ là điều kiện để tiếp cận vốn mà còn là nền tảng nâng cao sức cạnh tranh.
Ở chiều ngược lại, các tổ chức tín dụng cần từng bước chuyển từ tư duy cấp tín dụng thiên về tài sản bảo đảm sang đánh giá toàn diện hơn năng lực của doanh nghiệp, trong đó coi trọng dòng tiền, lịch sử tín dụng, chất lượng quản trị và tính khả thi của phương án kinh doanh.
Minh Châu