Lao động đông, năng suất chưa tương xứng
Nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình sản xuất dựa nhiều vào lao động thủ công, kinh nghiệm truyền thống sang ứng dụng công nghệ, nâng cao năng suất và gia tăng giá trị nông sản. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là một trong những rào cản lớn đối với quá trình này.
Theo số liệu được GS, TS Nguyễn Huy Bích, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Cơ khí Nông nghiệp Việt Nam, nguyên Trưởng khoa Cơ khí (Trường Đại học Nông Lâm TPHCM) dẫn lại, đến hết năm 2025, lao động nông thôn chiếm khoảng 61,47% tổng lực lượng lao động cả nước, trong khi giá trị sản phẩm nông nghiệp đạt khoảng 59,83 tỷ USD, đóng góp chưa đến 12% GDP.
Những con số này phản ánh thực tế nông nghiệp sử dụng lượng lớn lao động nhưng giá trị kinh tế tạo ra còn hạn chế. Năng suất thấp khiến thu nhập của người làm nông chưa cao, đồng thời thúc đẩy xu hướng lao động trẻ rời bỏ đồng ruộng để tìm kiếm cơ hội việc làm tại các đô thị và khu công nghiệp.
Theo GS, TS Nguyễn Huy Bích, áp lực này còn thể hiện rõ qua hiệu quả sử dụng tài nguyên và những biến động của thị trường. Khi nhu cầu nhập khẩu gạo tại các thị trường lớn như Philippines, Indonesia suy giảm, giá lúa trong nước chịu tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người trồng lúa.
Ông Bích dẫn ví dụ, với diện tích 1.000m² trồng lúa trong hơn 3,5 tháng, lợi nhuận của người nông dân ước tính chưa đến 4 triệu đồng. Trong khi đó, để sản xuất 1kg lúa, lượng nước sử dụng có thể lên tới khoảng 5m³. Việc phụ thuộc nhiều vào lao động và tài nguyên nhưng giá trị thu về chưa cao đang đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức sản xuất.
Thực trạng này cũng thể hiện tại các địa phương có thế mạnh nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long. Cà Mau, với hơn 473.000 lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nhưng tỷ lệ được đào tạo nghề còn thấp.
Ông Nguyễn Minh Nhứt, Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau cho biết, tỷ lệ lao động qua đào tạo trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ đạt khoảng 22,5%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ nghề chiếm khoảng 8,4%.

Theo ông Phạm Văn Mười, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, sự thiếu hụt nhân lực có chuyên môn gây khó khăn cho việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, nhất là ở những khâu đòi hỏi kỹ năng như vận hành hệ thống nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, kiểm soát môi trường nước, chế biến sâu và quản lý chuỗi cung ứng...
Đào tạo nông dân làm chủ công nghệ
Theo các chuyên gia, để nâng cao năng suất và giá trị nông sản, nông nghiệp không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ mà cần chuyển mạnh sang cơ giới hóa, tự động hóa và ứng dụng công nghệ số. Điều này đồng nghĩa với việc đào tạo lại lực lượng lao động hiện có, đồng thời hình thành đội ngũ nhân lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại. GS, TS Nguyễn Huy Bích cho rằng, nâng cao năng suất thông qua cơ giới hóa, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) là hướng đi cần thiết để giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công, sử dụng hiệu quả tài nguyên và cải thiện sức cạnh tranh của nông sản.
Tuy nhiên, chuyển đổi công nghệ không chỉ là đầu tư máy móc, thiết bị mà còn đòi hỏi người lao động có đủ kiến thức và kỹ năng để vận hành, khai thác hiệu quả. Vì vậy, chính sách đào tạo nghề cần gắn chặt với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, thị trường và từng ngành hàng.
Ông Lữ Quang Ngời, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho rằng, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần được xem là nền tảng để hiện đại hóa sản xuất thay vì chỉ tập trung vào số lượng người được đào tạo. Chương trình cần chú trọng kỹ năng thực hành, ứng dụng công nghệ và tư duy kinh tế nông nghiệp, giúp người dân có thể áp dụng kiến thức vào hoạt động sản xuất.
Từ thực tiễn địa phương, Cà Mau đang hướng tới tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, điều chỉnh chương trình đào tạo theo nhu cầu của các ngành nghề chủ lực như nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, quản lý vùng nuôi đạt chuẩn quốc tế, vận hành máy móc nông nghiệp và chế biến thủy sản xuất khẩu.
Ông Nguyễn Chí Thiện, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Cà Mau cho rằng, doanh nghiệp cần đóng vai trò quan trọng trong đào tạo và chuyển giao công nghệ. Khi tham gia sâu vào chuỗi liên kết, doanh nghiệp không chỉ hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm mà còn có thể trực tiếp đặt hàng đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật và nâng cao tay nghề cho người lao động. Dù vậy, việc đưa công nghệ vào nông nghiệp cần có lộ trình phù hợp với trình độ và điều kiện của người sản xuất.
Ông Nguyễn Hữu Hùng, chuyên gia tư vấn chuyển đổi số tại FPT Digital (Tập đoàn FPT) đề xuất, cách tiếp cận từng bước, bắt đầu từ những ứng dụng đơn giản, giúp người lao động nhận thấy hiệu quả cụ thể trước khi triển khai các giải pháp phức tạp hơn. Chẳng hạn, số hóa chấm công, quản lý sản lượng hay theo dõi chi phí có thể giúp người lao động kiểm soát chính xác hơn quá trình sản xuất, từ đó hình thành thói quen sử dụng công nghệ. Khi đã quen với công cụ cơ bản, nông dân có thể tiếp cận hệ thống cảm biến, quản lý vùng trồng và phân tích dữ liệu để tối ưu hóa hoạt động canh tác.
Bên cạnh chuyển đổi số, thực hành các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG) cũng góp phần thay đổi phương thức tổ chức sản xuất. TS Trần Tấn Việt, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Thành Thành Công, Phó Chủ tịch thường trực HĐQT Công ty cổ phần Phát triển Nông nghiệp (AGRIS) cho biết, doanh nghiệp đã xây dựng bộ tiêu chuẩn canh tác cây mía, quy định cụ thể về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và năng suất kỳ vọng. Nông dân tuân thủ quy trình có thể được thu mua sản phẩm với mức giá cao hơn khoảng 500 đồng/kg.
Theo ông Việt, các tiêu chuẩn sản xuất rõ ràng không chỉ hỗ trợ kiểm soát chất lượng mà còn tạo động lực để nông dân thay đổi tập quán canh tác, sử dụng tài nguyên hiệu quả và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Để quá trình chuyển đổi đạt hiệu quả, đào tạo nhân lực cần được triển khai đồng bộ với đầu tư công nghệ, phát triển doanh nghiệp nông nghiệp và mở rộng liên kết sản xuất. Khi người lao động được trang bị kỹ năng phù hợp, công nghệ có điều kiện phát huy hiệu quả, góp phần giảm chi phí, nâng cao năng suất và cải thiện thu nhập. Đây cũng là cơ sở để nông nghiệp Việt Nam từng bước chuyển từ mô hình thâm dụng lao động, tài nguyên sang sản xuất thông minh, có giá trị gia tăng cao và đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững.
KHÁNH VÂN