Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Theo dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung khoản 8 vào Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, quy định đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức. Việc xác định các loại đất này sẽ thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đánh giá đề xuất trên, PGS, TS Trần Hoàng Ngân cho rằng, việc tăng thuế đối với đất bỏ hoang là cần thiết, góp phần hạn chế tình trạng giữ đất nhưng không khai thác, qua đó đưa nguồn lực đất đai vào sử dụng hiệu quả hơn, đồng thời góp phần chống đầu cơ và tình trạng “thổi giá” đất.
Tuy nhiên, theo ông, điều quan trọng trước khi áp dụng chính sách là phải xác định rõ tiêu chí, căn cứ để nhận diện đất bỏ hoang, đất chậm đưa vào sử dụng và khoảng thời gian bao lâu không sử dụng thì được xem là bỏ hoang.
Nếu không phân định rõ nguyên nhân, chính sách có thể tác động tới cả những người thực sự có nhu cầu sử dụng đất nhưng chưa đủ điều kiện đưa đất vào sử dụng.

Đồng quan điểm, TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Kinh tế Tài nguyên và Môi trường cho rằng, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở mức thuế suất 0,2% mà trước hết phải trả lời được câu hỏi thế nào là đất bỏ hoang và dựa trên tiêu chí nào để xác định.
Theo ông, cần phân biệt nguyên nhân đất chưa được sử dụng, trách nhiệm của người sử dụng đất với những nguyên nhân khách quan, trong đó có cả những bất cập từ công tác quản lý nhà nước.
TS Phạm Viết Thuận cho rằng, không nên đồng nhất đất chưa được sử dụng với hành vi đầu cơ. Nếu mục tiêu là hạn chế đầu cơ đất đai, cần sử dụng các công cụ quản lý trực tiếp đối với hành vi này, đồng thời xây dựng cơ chế quản trị thị trường phù hợp.
Chuyên gia kinh tế Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho rằng, công cụ thuế và chính sách tài chính cần được sử dụng để làm giảm sức hấp dẫn của hành vi đầu cơ, khuyến khích dòng tiền chuyển sang các hoạt động tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế.
Trong khi đó, CEO EZ Property Phạm Đức Toản lưu ý không nên áp dụng theo cách “cứ đất chưa xây dựng là áp thuế”. Tại nhiều khu vực nông thôn, việc các gia đình tích lũy đất để chuẩn bị cho con cái ra ở riêng trong tương lai là tập quán phổ biến và không nên mặc nhiên coi đây là hành vi đầu cơ.
Ông đề xuất nghiên cứu cơ chế loại trừ hoặc giảm trừ đối với một diện tích đất ở nhất định của hộ gia đình; phần diện tích vượt ngưỡng mà vẫn không được đưa vào sử dụng mới xem xét áp thuế. Chính sách cũng có thể ưu tiên áp dụng đối với đất ở tại đô thị, đất nền phân lô trong các dự án có dấu hiệu găm giữ, thay vì triển khai đại trà ở khu vực nông thôn.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn cũng cho rằng, cần cân nhắc mức thuế trong tương quan với giá trị đất, quy mô diện tích, thời gian không sử dụng và khả năng tài chính của từng nhóm chủ sở hữu. Với một thửa đất có giá trị tính thuế 1 tỷ đồng, thuế suất 0,2% tương đương 2 triệu đồng/năm. Nếu lợi ích kỳ vọng từ việc giữ đất cao hơn đáng kể khoản thuế phải nộp, người sở hữu vẫn có thể chấp nhận chi phí này để chờ giá tăng.
Từ góc độ này, ông Phạm Đức Toản gợi ý nghiên cứu phương án áp dụng thuế theo bậc lũy tiến, chẳng hạn từ 0,1% đến 0,5%, thay vì một mức thuế cố định. Người sở hữu một thửa đất và người nắm giữ số lượng lớn đất chưa đưa vào sử dụng không nên chịu cùng một mức thuế, qua đó bảo đảm tính công bằng và tăng sức răn đe với hành vi găm giữ đất quy mô lớn.
Theo chuyên gia Huỳnh Thanh Điền, xét cho cùng, mục tiêu của chính sách không chỉ là tăng nguồn thu ngân sách từ thuế đất, mà quan trọng hơn là tạo động lực đưa đất đai vào sử dụng đúng mục đích, khơi thông nguồn lực và hạn chế tình trạng găm giữ, lãng phí tài nguyên. Vì vậy, cùng với việc cân nhắc mức thuế phù hợp, chính sách cần được thiết kế trên cơ sở dữ liệu đầy đủ, tiêu chí minh bạch và cơ chế phân loại rõ ràng.
Châu Anh