Kỳ II: Vẫn còn “điểm nghẽn”, “nút thắt”
Thực tế cho thấy, hiện nay khó khăn tồn tại ở hầu hết các lĩnh vực như: Cơ chế tài chính; quản lý đất đai; quy hoạch; chất lượng cán bộ; chuyển đổi số liên thông; cải cách hành chính... Trong đó vấn đề đáng quan tâm là sau khi sáp nhập đơn vị hành chính (ĐVHC), là việc phê duyệt chủ trương đầu tư hay giao đất cho tổ chức, cá nhân gặp vướng mắc do thiếu quy định, cơ chế cụ thể. Nhiều thủ tục như chấp thuận cho tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất hiện chưa thống nhất, còn tình trạng thiếu biểu mẫu, chậm cập nhật hướng dẫn, khiến địa phương khó triển khai. Vì vậy, không ít dự án bị chậm tiến độ, ảnh hưởng tới thu hút vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn FDI để phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) tại cấp xã cũng gặp nhiều áp lực bởi khối lượng công việc được phân cấp lớn, với khoảng 1.060 thủ tục và nghiệp vụ hành chính được thực hiện ở cấp xã, phường. Nhiều nhiệm vụ mới (từ cấp huyện cũ) chuyển về và tiến độ báo cáo công việc theo ngày, theo giờ cũng như rất nhiều báo cáo thường xuyên, đột xuất khác khiến cho khối lượng công việc càng thêm phức tạp. Trong khi hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, liên thông phần mềm dịch vụ công trực tuyến thường xuyên bị dán đoạn làm chậm tiến độ cung cấp dịch vụ công; mặt khác không ít cán bộ, công chức cấp xã còn lúng túng khi xử lý các nghiệp vụ mới phát sinh.
Một điều đáng lưu ý là, thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP của Chính phủ: Về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị - đây là một chủ trương, chính sách đúng của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện tại một số cơ quan, đơn vị và địa phương đã để xảy ra sai phạm trong thẩm định, giải quyết hồ sơ để một số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động nghỉ việc không đúng đối tượng, dẫn đến lãng phí đáng kể nguồn cán bộ có trình độ, năng lực và kinh nghiệm. Bởi thực tế hiện nay tại nhiều cơ quan, đơn vị, nhất là ở cấp cơ sở đã thiếu lại càng thiếu cán bộ thực sự có chuyên môn, nghiệp vụ. Tại nhiều đơn vị, số người còn lại do phần lớn là không xin được việc ở các doanh nghiệp tư nhân (do thiếu kinh nghiệm, không đáp ứng yêu cầu) nên không nghỉ theo Nghị định 178.

Mặt khác, tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương việc sắp xếp các phòng, ban chuyên môn của các sở, ban, ngành chưa hợp lý, khoa học (đặc biệt là ở cấp xã); trong khi đó số cán bộ thạo việc lại phải kiêm nhiệm nhiều, đòi hỏi tính chuyên môn hóa cao. Ví dụ, tại một phòng chức năng ở cấp cơ sơ chỉ có từ 5 - 6 người phải kiêm nhiệm rất nhiều công việc khác nhau, nhưng trong số đó lại không bổ trợ, giúp đỡ nhau được vì thiếu kinh nghiệm và chuyên môn để giải quyết công việc chung. Bởi vì trước đây, cấp huyện là “cánh tay nối dài” giữa cấp tỉnh và cấp cơ sở, nay nhiều nhiệm vụ của cấp huyện, thậm chí nhiều công việc của cấp tỉnh đã chuyển hoàn toàn cho cấp xã giải quyết và chịu trách nhiệm… dẫn đến có sự hỗn loạn trong giải quyết công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp; tồn đọng hồ sơ kéo dài… những thực trạng này nguyên nhân cốt lõi nhất là đội ngũ cán bộ, công chức ở sơ sở thiếu kinh nghiệm thực tế, thiếu chuyên môn nghiệp vụ.
Bên cạnh đó, một trong những khó khăn, vướng mắc lớn nhất là sự đồng bộ hóa giữa công tác cải cách hành chính đối với việc sắp xếp các ĐVHC chưa đồng bộ, chưa phù hợp với cải cách TTHC và chuyển đổi số. Ví dụ, nhiều trụ sở sau sáp nhập không được thiết kế chuyên biệt cho Trung tâm Phục vụ hành chính công, diện tích nhỏ gây áp lực lớn khi tiếp nhận và xử lý hồ sơ cho người dân, doanh nghiệp; đường truyền internet đôi khi chưa ổn định, máy móc, thiết bị phục vụ số hóa tài liệu xuống cấp hoặc thiếu đồng bộ; các hệ thống như Cổng Dịch vụ công quốc gia, phần mềm chuyên ngành, hoặc lỗi VNeID thường xuyên gặp sự cố, quá tải vào giờ cao điểm; việc liên thông giữa các cấp, các ngành chưa liền mạch (ví dụ hồ sơ hộ kinh doanh nộp qua Cổng dịch công nhưng bị bỏ qua hoặc chuyển không đúng quy trình); cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, tài sản công chưa điều chỉnh kịp theo địa giới hành chính mới; lượng tài liệu lưu trữ tồn đọng cần số hóa rất lớn nhưng thiếu nhân lực và máy móc hỗ trợ.
Qua thực tế nhận thấy, công tác “chăm lo cho người nghỉ việc” theo chế độ đang được quan tâm hơn so với việc chăm lo cho số cán bộ, công chức đang ở lại làm việc thực sự có chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm. Bởi phần lớn số cán bộ, công chức cấp xã hiện nay đang phải kiêm nhiệm rất nhiều việc, trong khi đó lại không được hưởng phụ cấp và tiền làm thêm giờ tương xứng, dẫn đến một bộ phận có tâm lý dao động, không có động lực để toàn tâm, toàn ý cống hiến, phục vụ vì lợi ích chung. Điều này cần sớm có cơ chế, chính sách trong đãi ngộ tương xứng đối với cán bộ, công chức ở cơ sở.
Chỉ ra những khó khăn sau 1 năm triển khai mô hình CQĐP 2 cấp, ông Lê Ngọc Châu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng nhấn mạnh: Yêu cầu tập trung làm rõ 5 nhóm vấn đề trọng tâm. Đối với tổ chức bộ máy và hiệu quả quản trị địa phương, cần đánh giá thực chất việc sắp xếp tổ chức tinh gọn, hiệu quả; việc bố trí phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức đã phù hợp chưa? có hay không việc một số bộ phận cán bộ, công chức khối lượng công việc lớn dẫn đến quá tải trong khi lại có những cán bộ, công chức ít việc… Việc phân cấp, phân quyền cho cấp xã đã hợp lý, đồng bộ, sát thực tiễn chưa; cần đề xuất cơ chế để tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản trị địa phương.
Cùng quan điểm về những khó khăn, vướng mắc khi vận hành CQĐP 2 cấp, GS,TS Vũ Công Giao, Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: Còn khoảng cách giữa nhiệm vụ được giao và những điều kiện thực hiện, nhất là ở cấp xã - nơi đang phải trực tiếp tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp và giải quyết rất nhiều công việc hàng ngày. Bên cạnh đó, một số công việc chưa rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm chính, cơ quan nào phối hợp, nhất là những công việc liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương hoặc là vấn đề mới phát sinh; người dân ở một số nơi đang gặp khó khăn khi tiếp cận dịch vụ công, một phần do hồ sơ, dữ liệu, cán bộ, thủ tục và hệ thống công nghệ thông tin chưa được hoàn thiện, kết nối một cách thông suốt.
Ngày 1/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 nêu rõ tại Hội nghị đã thống nhất nhận diện một số hạn chế, vướng mắc lớn cần tập trung khắc phục rất nhiều vấn đề lớn. Trong đó có 1 trong 7 vấn đề trọng tâm được nêu ra là: “Năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới. Khối lượng công việc chuyển xuống cơ sở rất lớn, trong khi cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin, thanh tra, quản lý đô thị, các lĩnh vực phức tạp khác còn thiếu. Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ (theo đánh giá chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ)”.
Như vậy, điểm chung của người đứng đầu Đảng ta và những người lãnh đạo, quản lý ở các địa phương cùng các nhà khoa học đều cho rằng “điểm nghẽn”, “nút thắt” lớn nhất của việc vận hành mô hình CQĐP 2 cấp hiện nay đều nằm thể chế chưa đồng bộ, sắp xếp một số cơ quan, đơn vị ở cơ sở chưa thực sự khoa học, hợp lý (điển hình là việc tách, nhập một số phòng, ban) dẫn đến tình trạng có nơi thừa cán bộ, có nơi lại thiếu cán bộ làm được việc; việc phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng; hạ tầng số và dữ liệu dùng chung chưa được liên thông, thống nhất giữa các bộ, ngành và địa phương; chế độ đãi ngộ, trọng dụng người tài năng và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có chuyên môn nghiệp vụ giỏi chưa tương xứng… dẫn đến việc triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm gặp rất nhiều rào cản, nhất là trong phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương.
Từ những hạn chế, vướng mắc nêu trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Cuộc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là công việc rất lớn, rất khó và phải được tiến hành kiên trì, bài bản, khoa học. Không thể nóng vội, chủ quan, song cũng không thể dừng lại hoặc chần chừ trước những bất cập được thực tiễn chỉ ra. Tôi đề nghị các cơ quan có liên quan khẩn trương tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội nghị, hoàn thiện báo cáo, dự thảo kết luận và chương trình hành động. Mỗi nhiệm vụ phải rõ nội dung, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm. Đồng thời, phải rõ chỉ số đánh giá kết quả, rõ cơ chế theo dõi tiến độ và rõ chế độ báo cáo định kỳ để kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Những việc thuộc thẩm quyền của Trung ương phải được nghiên cứu, quyết định kịp thời. Những việc thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải được triển khai ngay, không để ách tắc, không để kéo dài, không để cơ sở phải chờ đợi. Những công việc đã được phân cấp cho cấp xã phải được hướng dẫn kịp thời, cụ thể, không để cơ sở phải chờ đợi, lúng túng trong tổ chức thực hiện”.
Lê Sơn - Ngọc Ước
Kỳ III: Những việc cần làm ngay để hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp