Quay lại Dân trí
Nội vụ & Xã hội
  1. Tâm điểm

Nhà văn, nhà báo Lưu Quý Kỳ: Trọn đời tâm huyết với báo chí cách mạng

Nhà văn, nhà báo Lưu Qúy Kỳ (1919 - 1982) là người trọn đời tâm huyết gắn bó và có đóng góp vô cùng to lớn cho sự nghiệp báo chí cách mạng trong thế kỷ XX.

Trong suốt 47 năm liên tục hoạt động báo chí ông đã viết gần 3.000 bài báo, xuất bản 72 quyển sách các loại, trong số đó nhiều tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng nước ngoài. Ông vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu thành đồng Tổ quốc. Ngoài ra ông còn được Tổ chức Quốc tế các Nhà báo (OIJ) tặng thưởng Huy hiệu Julius Fucik (Nhà báo cống hiến cho hòa bình và hữu nghị). Tên ông được đặt cho ba con đường ở Quảng Nam, Đà Nẵng và TPHCM.   

Dấn thân khởi nghiệp từ tuổi 16

Nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động cách mạng Lưu Qúy Kỳ sinh ngày 21/10/1919 tại xã Minh Hương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (cũ). Hoàn cảnh gia đình tuy khó khăn, nhưng ông được cha mẹ lo cho ăn học từ nhỏ. Tuổi thơ của ông gắn bó với vùng quê nuôi dâu tằm trù phú ven con sông Thu Bồn thơ mộng. Ngay từ thuở cắp sách tới trường ông đã ham đọc sách báo và có khiếu viết văn, làm thơ. Những tờ báo có nội dung yêu nước như: Tiếng dân, Phụ nữ Tân văn, Phong hóa, Ngày nay đã có ảnh hưởng sâu sắc, cuốn hút mê hoặc ông.

Nhà văn, nhà báo Lưu Quý Kỳ: Trọn đời tâm huyết với báo chí cách mạng - 1
Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhà báo Lưu Quý Kỳ tại Phủ chủ tịch, khoảng năm 1968 (trích từ tư liệu phim của Đài Truyền hình Nhật Bản).

Tốt nghiệp lớp 5 (primaire), ông đã viết bài báo đầu tiên “Nhiệm vụ của thanh niên” được đăng trên báo Non nước của Trần Trung Viên ở Hà Nội. Năm 1935, ông viết truyện ngắn “Vượt ngục” được đăng ở báo Tin vắn của Thái Phỉ, xuất bản ở Hà Nội, khi ấy ông 16 tuổi. Tác phẩm được coi là bước chạm ngõ đầu tiên của ông với nghệ thuật văn chương và báo chí như một định mệnh, để rồi gắn bó suốt 47 năm cuộc đời. Sau khi lấy bằng Thành chung ông tiếp tục theo học Trường Kỹ nghệ thực hành Huế, với mơ ước sau này có công việc ổn định để thay đổi cuộc sống. Nhưng do tham gia tổ chức học sinh bãi khóa chống nhà cầm quyền, nên ông bị đuổi học vào tháng 6/1937. Con đường tiến thân bằng học hành khoa cử bị lỡ dở, tháng 8/1937 ông thoát ly gia đình chính thức dấn thân vào hoạt động cách mạng, với vai trò phụ trách công tác tuyên truyền (tuyên huấn) của Chi bộ Đảng Hội An. Tháng 11/1937, ông được tổ chức phân công vào Nam làm Bí thư Liên đoàn Thanh niên dân chủ kiêm Tổng thư ký Ban vận động Đông Dương Văn sĩ phái tả, nhằm vận động các nhà văn yêu nước tiến bộ tham gia vào hàng ngũ cách mạng. Khi tờ báo Dân khá nổi tiếng ở Huế bị cấm xuất bản, ông được tổ chức phái vào Sài Gòn tiếp tục xuất bản các tờ báo: Dân muốn, Dân tiến, Tiến tới, thay cho báo Dân.

Đến giữa năm 1939, cả ba tờ báo do ông làm Thư ký tòa soạn đều bị chính quyền thực dân Pháp cấm xuất bản lưu hành, ông chuyển sang công tác thanh niên, làm chủ bút và trở thành cây bút chủ lực của tờ Báo mới - cơ quan Liên đoàn Thanh niên dân chủ Nam Kỳ; đồng thời kiêm nhiệm biên tập cho những tờ báo của Đảng xuất bản công khai như: Lao động, Phổ thông, Dân chúng. Ông tích cực viết tin, bài về hiện thực các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của công nhân đăng trên các báo như: Công luận, Điện tín, Thế kỷ với nội dung nói lên quan điểm của người cộng sản Việt Nam đầy tự tin trước thời cuộc. Năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt, đưa đi đày ở nhà lao Trà Khê (Tây Nguyên). Đầu năm 1945 ông được trả tự do, trở về quê tiếp tục liên lạc kết nối với tổ chức tham gia chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hội An.

Nhà văn, nhà báo Lưu Quý Kỳ: Trọn đời tâm huyết với báo chí cách mạng - 2
Tờ báo Dân tiến do nhà báo Lưu Qúy Kỳ làm thư ký toà soạn.

Tâm huyết xây dựng nền báo chí cách mạng

Cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công, ông được tổ chức tin tưởng giao làm chủ bút tạp chí Ánh sáng, cơ quan Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Trung bộ. Năm 1947,  ông được giao trách nhiệm làm chủ báo Cứu quốc của Khu ủy Khu 4 và phụ trách tờ tạp chí Kháng chiến, kiêm ủy viên Ban biên tập báo Sáng tạo (cơ quan văn nghệ Khu 4). Tháng 8/1948, ông nhận nhiệm vụ mới và lên đường trở lại Nam bộ lần thứ 2. Đây là chuyến vượt Trường Sơn dài 6 tháng liên tục đi bộ, đến tháng 3/1949 mới vào đến Đồng Tháp Mười. Tại chiến khu Đồng Tháp Mười ông được cử làm Trưởng ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam bộ, Giám đốc Sở Văn nghệ - Tuyên truyền Nam bộ (sau đổi thành Sở Thông tin Nam bộ). Đồng thời làm chủ bút một số tờ báo, tạp chí như:  Lá lúa - cơ quan của Chi hội Văn nghệ Nam bộ; tạp chí Thống nhất; báo Nhân dân miền Nam (cơ quan Trung ương Cục) và làm Giám đốc Đài Phát thanh Tiếng nói Nam bộ. Đây là thời kỳ làm báo vô cùng gian nan, thiếu thốn, nguy hiểm nhưng cũng đầy sôi động, sáng tạo, tâm huyết của ông đối với việc xây dựng nền báo chí cách mạng trong kháng chiến.

Năm 1954, sau hiệp định Giơ ne vơ ông cùng vợ quyết định gửi hai con cho má vợ ở Biên Hòa (Đồng Nai) nuôi dưỡng để rời Khu 9 tập kết ra Bắc, nhận nhiệm vụ mới. Ông được giao trọng trách làm Vụ trưởng Vụ Báo chí Ban Tuyên huấn Trung ương khi mới 35 tuổi. Từ năm 1962 ông làm Tổng thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Thư ký tòa soạn báo Thống nhất và là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Những năm tháng sống và làm việc trên đất Bắc cũng như nhiều nhà báo thời đó, suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông từng khoác ba lô lên đường như một phóng viên chiến trường thực chiến. Ông đã đi thăm và viết bài về 20 nước trên thế giới. Với sở trường viết bút ký sắc sảo, tài hoa ông đã ghi lại những chất liệu hiện thực cuộc sống gian khổ, ác liệt nhưng hào hùng của cuộc chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, đầy lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cùng của quân và dân ta.

Nhà văn, nhà báo Lưu Quý Kỳ: Trọn đời tâm huyết với báo chí cách mạng - 3

Cố nhà văn, nhà báo Lưu Qúy Kỳ và vợ.

Bút ký của ông được đồng nghiệp như nhà báo Phan Quang đánh giá là giàu chất văn học, đậm chất thơ. Trong mỗi tác phẩm bút ký, ông trau chuốt từng câu chữ, nhịp nhàng trong vần điệu, sinh động về tiết tấu, tính sự kiện báo chí hòa trộn bay bổng, hào sảng, lãng mạn của một tâm hồn nghệ sĩ. Có thể nói từ niềm say mê, tâm huyết với nghề cùng sự trải nghiệm cuộc sống phong phú và bằng sự rung cảm của một tâm hồn đậm chất nghệ sĩ đã làm nên phong cách rất riêng trong bút ký của ông. Nhiều bút ký của ông đã được tập hợp in trong cuốn sách “Miền Nam yêu quý” (NXB Sự thật 1955); “Một phú miền Nam” (NXB Thanh Niên 1960); “Phút im lặng” (NXB Sự thật 1972); “Nước về biển” (NXB Thanh Niên 1972); “Tâm sự với anh” (NXB Văn học 1984)…

Ông là nhà báo, nhà văn đa tài với sức sáng tạo đáng khâm phục, ngoài thể loại bút ký (báo chí) chiếm vị trí đặc biệt ông còn làm thơ và xuất bản tập thơ đầu tiên “Bài thơ Nam bộ” (1950). Những bài viết lý luận phê bình văn học của ông được tập hợp trong 2 cuốn sách: “Tác phong văn nghệ nhân dân” (NXB Lá lúa 1951) và “Qua thực tiễn văn nghệ kháng chiến Nam bộ” (NXB Văn hóa 1958). Là người nhiều năm trong cương vị Tổng Thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, ông đã đóng góp tích cực vào việc đào tạo, bồi dưỡng nhiều thế hệ đội ngũ nhà báo nước nhà. Ông trực tiếp tham gia mở lớp, giảng bài về công tác báo chí và góp phần tổ chức xây dựng được 15 cơ quan báo chí. Trong một chuyến công tác nước ngoài với trách nhiệm là đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông đột ngột qua đời tại Đại sứ quán Việt Nam ở Thái Lan ngày 1/8/1982, khi mới ngoài 60 tuổi.

                                                                                                 Lương Định

Tin liên quan