Áp lực chăm sóc người cao tuổi ngày càng tăng
Theo dự báo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), đến năm 2025, người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) chiếm trên 14% dân số. Trong giai đoạn 2024 - 2074, dân số Việt Nam vẫn tiếp tục tăng nhưng tốc độ chậm dần và dự kiến đạt đỉnh vào khoảng năm 2059 theo phương án trung bình. Đáng chú ý, sự gia tăng nhanh của nhóm dân số cao tuổi đang làm thay đổi sâu sắc cơ cấu dân số và mô hình nhu cầu xã hội.
Già hóa dân số không chỉ đồng nghĩa với nhu cầu khám, chữa bệnh tăng cao mà còn kéo theo nhu cầu chăm sóc thường xuyên, chăm sóc dài hạn, phục hồi chức năng và hỗ trợ tinh thần người cao tuổi. Trong bối cảnh gia đình hạt nhân ngày càng phổ biến, quy mô hộ gia đình thu hẹp, việc chăm sóc người cao tuổi không còn có thể dựa chủ yếu vào gia đình hay cộng đồng tự phát như trước mà đang trở thành nhiệm vụ xã hội mang tính chiến lược.
Nhận thức rõ thách thức này, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng. Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 9/9/2025) xác định yêu cầu phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, đồng thời đẩy mạnh phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi, kết hợp hiệu quả giữa hệ thống y tế và chăm sóc dài hạn. Trước đó, Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn 2045 (Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/2/2025) đặt mục tiêu nâng cao chất lượng sống và chăm sóc toàn diện cho người cao tuổi.
Dù định hướng chính sách đã rõ, thực tiễn cho thấy nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi vẫn là khâu yếu nhất trong toàn bộ hệ thống. Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn thẳng thắn chỉ ra, trong khi nhu cầu chăm sóc tăng nhanh, hệ thống đào tạo nhân lực chuyên sâu về lão khoa ở Việt Nam còn rất hạn chế. Hiện cả nước mới chỉ có 2 cơ sở đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ngành lão khoa. Các ngành liên quan như điều dưỡng, công tác xã hội, y tế công cộng, tâm lý học chủ yếu lồng ghép nội dung chăm sóc người cao tuổi trong chương trình chung chưa có đào tạo chuyên sâu. Các khóa đào tạo ngắn hạn về chăm sóc dài hạn, chăm sóc giảm nhẹ hay phục hồi chức năng còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
Không chỉ thiếu về số lượng, chất lượng nhân lực cũng chưa đồng đều. Nhiều người làm công việc chăm sóc, đặc biệt là chăm sóc tại nhà chưa được trang bị đầy đủ kiến thức y tế, tâm lý, kỹ năng giao tiếp và xử lý các tình huống đặc thù của người cao tuổi. Hơn nữa, nghề chăm sóc người cao tuổi chưa được xã hội đánh giá đúng mức, thậm chí bị nhìn nhận như lao động giản đơn hay giúp việc gia đình, khiến nghề thiếu sức hút và khó giữ chân người lao động lâu dài.

Kinh tế chăm sóc - động lực tăng trưởng mới
Trong bối cảnh đó, “kinh tế chăm sóc” dần được nhìn nhận như một lĩnh vực kinh tế dịch vụ có tiềm năng tăng trưởng lớn. Tại Diễn đàn Kinh tế chăm sóc Việt Nam 2026 do Hội đồng Doanh nhân nữ Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 26/1, các chuyên gia khẳng định đầu tư cho chăm sóc không chỉ mang ý nghĩa xã hội mà còn tạo ra giá trị kinh tế bền vững.
Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, mỗi 1 USD đầu tư cho lĩnh vực chăm sóc có thể tạo ra tới 4 USD lợi ích kinh tế thông qua tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động và cải thiện phúc lợi xã hội. Bà Mai Thị Diệu Huyền, Phó Chủ tịch phụ trách VCCI nhấn mạnh, kinh tế chăm sóc đang nổi lên như một ngành kinh tế đầy tiềm năng, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới, tăng quyền kinh tế cho phụ nữ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo bà Mai Thị Diệu Huyền, nhu cầu về dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp đang chuyển mạnh từ hoạt động mang tính hỗ trợ sang ngành dịch vụ có cấu trúc, thị trường rõ ràng. Việc hình thành các trung tâm chăm sóc sức khỏe dài hạn, dịch vụ hỗ trợ tại gia chuyên nghiệp không chỉ đáp ứng sự thay đổi của cấu trúc gia đình hiện đại mà còn mở ra phân khúc thị trường mới nhiều dư địa phát triển.
PGS, TS Phạm Quốc Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Thái Bình cho rằng, để lấp đầy khoảng trống nhân lực chăm sóc người cao tuổi, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết là thay đổi nhận thức xã hội, coi chăm sóc người cao tuổi là một nghề chuyên nghiệp, có giá trị xã hội và kinh tế, thay vì lao động giản đơn. Cùng với đó, cần hoàn thiện khung pháp lý, ban hành mã nghề “nhân viên chăm sóc người cao tuổi”, xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ năng quốc gia, chuẩn hóa chương trình đào tạo và cấp chứng chỉ hành nghề. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ học phí, học bổng, cơ chế đãi ngộ, bảo đảm phúc lợi và lộ trình thăng tiến cho người lao động trong lĩnh vực này; đồng thời đầu tư phát triển hệ thống cơ sở đào tạo gắn với nhu cầu thực tiễn. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nhân lực chăm sóc người cao tuổi, tăng cường hợp tác quốc tế với các quốc gia có hệ thống chăm sóc phát triển cũng được coi là những bước đi cần thiết.
Già hóa dân số là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược. Chỉ khi nhìn nhận chăm sóc người cao tuổi như một trụ cột của an sinh xã hội và một ngành kinh tế dịch vụ chiến lược, Việt Nam mới có thể chủ động thích ứng với quá trình già hóa, bảo đảm phát triển bền vững và bao trùm trong những thập niên tới.
Châu Anh








