Quay lại Dân trí
Nội vụ & Xã hội
  1. Đời sống - Kinh tế - Xã hội

Chế biến sâu: “Chìa khóa vàng” để nông sản Việt tăng trưởng

Nông sản Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu, nhưng dư địa tăng trưởng dựa vào sản lượng ngày càng thu hẹp.

Chế biến sâu, tiêu chuẩn hóa, chuyển đổi số  và xây dựng thương hiệu đang trở thành những trụ cột để chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu sang chinh phục các phân khúc  có giá trị cao.

Xuất khẩu tăng trưởng nhưng giá trị gia tăng còn nhiều dư địa

Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025. Ngành tiếp tục duy trì trạng thái xuất siêu khi kim ngạch xuất khẩu cao hơn đáng kể so với nhập khẩu, với giá trị nhập khẩu đạt 31,13 tỷ USD.

Trong cơ cấu xuất khẩu, nông sản đạt 22,2 tỷ USD, lâm sản 10,96 tỷ USD và thủy sản 6,85 tỷ USD. Đáng chú ý, nhóm sản phẩm chăn nuôi và đầu vào phục vụ sản xuất cũng  ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt 33,2% và 71,1%.

Trong bức tranh chung, rau quả tiếp tục là điểm sáng khi đạt kim ngạch 4,83 tỷ USD, tăng 24,9%. Riêng thị trường Trung Quốc chiếm tới 55% lượng xuất khẩu nhóm hàng này. Sầu riêng cũng duy trì đà tăng trưởng ấn tượng, với kim ngạch đạt khoảng 1,8 tỷ USD, tăng 30%, mở ra kỳ vọng vượt mốc 4 tỷ USD trong cả năm 2026.

Những con số trên cho thấy sức bật của nông sản Việt Nam vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, đằng sau tốc độ tăng trưởng kim ngạch là bài toán lớn hơn: Làm thế nào để mỗi tấn nguyên liệu xuất khẩu tạo ra nhiều giá trị hơn, thay vì phụ thuộc vào sản lượng và giá cả thị trường?

Thực tế tại nhiều doanh nghiệp đầu ngành cho thấy, đầu tư vào chế biến không chỉ giúp kéo dài thời gian bảo quản mà còn tạo ra những sản phẩm khác biệt, mở rộng thị trường và giảm sự phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu tươi.

Tại Tập đoàn Phúc Sinh, chiến lược đầu tư dài hạn vào công nghệ chế biến đang tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng doanh thu khoảng 25% trong năm 2026. Trong 6 tháng đầu năm, doanh thu doanh nghiệp đạt khoảng 6.000 tỷ đồng và dự kiến cả năm vượt 420 triệu USD.

Theo ông Phan Minh Thông, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Tập đoàn Phúc Sinh, kết quả này có được từ quá trình liên tục tái đầu tư vào công nghệ và hạ tầng sản xuất.

Chế biến sâu: “Chìa khóa vàng” để nông sản Việt tăng trưởng - 1
Sầu riêng đông lạnh - động lực mới cho xuất khẩu trái cây.

“Nếu chỉ bán nông sản thô thì rất khó cạnh tranh. Chế biến sâu giúp doanh nghiệp mua được nguyên liệu của nông dân với giá tốt hơn, đồng thời tạo ra sản phẩm khác biệt và bán với giá trị cao hơn”, ông Thông nói.

Từ nhà máy chế biến đầu tiên được đầu tư năm 2005, đến nay Phúc Sinh đã sở hữu 6 nhà máy và đang triển khai thêm 2 dự án quy mô lớn, trong đó có trung tâm chế biến tại Đắk Nông.

Doanh nghiệp cũng không chỉ tập trung vào các sản phẩm truyền thống như hạt tiêu mà phát triển nhiều dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao như tiêu xanh sấy lạnh, tiêu hồng sấy lạnh và trà Cascara - sản phẩm được chế biến từ vỏ quả cà phê chín. Đây là những sản phẩm phục vụ các thị trường ngách nhưng có khả năng tạo biên giá trị cao hơn và giúp nông sản Việt Nam tạo dấu ấn riêng trên thị trường quốc tế.

Cùng với chế biến sâu, phát triển bền vững được Phúc Sinh xác định là chiến lược xuyên suốt từ năm 2008. Việc sớm áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về phát triển bền vững giúp doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng phù hợp với những yêu cầu ngày càng cao của các thị trường, đặc biệt là châu Âu.

Chế biến sâu giúp giảm “thất thoát” sau thu hoạch

Một trong những lợi ích quan trọng nhất của chế biến sâu là giúp giảm tổn thất sau thu hoạch - vấn đề vẫn đang gây lãng phí lớn cho ngành nông nghiệp. Theo Hiệp hội Rau quả Việt Nam, tỷ lệ tổn thất rau quả tại Việt Nam hiện khoảng 30 - 40%, cao hơn đáng kể so với mức khoảng 10 - 15% tại Thái Lan.

Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, hàng chế biến chiếm khoảng 2/3 kim ngạch rau quả xuất khẩu sang EU. Trong khi đó, tính chung toàn ngành, sản phẩm chế biến mới chiếm khoảng 30,85% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong 6 tháng đầu năm.

Đối với các thị trường xa như EU, chế biến sâu càng cho thấy lợi thế rõ rệt. Theo ông Nguyên, vận chuyển nông sản tươi bằng đường hàng không có ưu điểm về thời gian nhưng chi phí rất cao, trong khi vận chuyển bằng đường biển đòi hỏi hệ thống bảo quản nghiêm ngặt.

Các hình thức chế biến như đông lạnh, sấy, nghiền, sản xuất nước ép... giúp kéo dài thời gian bảo quản, giảm tổn thất trong quá trình vận chuyển và mở rộng phạm vi thị trường. Đáng chú ý, công nghệ chế biến còn cho phép tận dụng những nguyên liệu không đạt yêu cầu về hình thức để bán tươi nhưng vẫn bảo đảm chất lượng, qua đó giảm lượng sản phẩm bị loại bỏ. Như vậy, chế biến sâu không chỉ tạo thêm một sản phẩm mới mà còn giúp doanh nghiệp khai thác tốt hơn giá trị của toàn bộ nguồn nguyên liệu.

Ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam nhận định, năng suất của nhiều ngành hàng chủ lực như cà phê, hồ tiêu và lúa gạo đã ở mức cao so với thế giới. Muốn tăng thêm năng suất, dù chỉ 1%, ngành sản xuất có thể phải sử dụng thêm nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và lao động, trong khi hiệu quả kinh tế chưa chắc tương xứng.

Không chỉ giới hạn về năng suất, quá trình thu hoạch, bảo quản và chế biến chưa tối ưu còn khiến nông nghiệp Việt Nam thất thoát khoảng 15 - 20% giá trị sản phẩm sau thu hoạch. Bài toán vì thế không còn đơn giản là “sản xuất thêm bao nhiêu” mà là giữ lại bao nhiêu giá trị từ mỗi đơn vị nguyên liệu và tạo thêm bao nhiêu giá trị trước khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Cần một hệ sinh thái chính sách cho chuỗi giá trị

Từ thực tiễn của doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra đối với toàn ngành, các chuyên gia cho rằng động lực tăng trưởng mới của nông nghiệp Việt Nam cần được xây dựng trên 3 trụ cột: Tiêu chuẩn hóa, chế biến sâu và thương hiệu.

Muốn vậy, chính sách cũng cần chuyển từ tư duy hỗ trợ sản xuất sang hỗ trợ phát triển toàn bộ chuỗi giá trị. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tích tụ và tập trung đất đai, tạo điều kiện để hình thành những vùng nguyên liệu quy mô lớn, ổn định và phù hợp với yêu cầu của nhà máy chế biến.

Chính sách tín dụng cũng cần được đổi mới theo hướng đánh giá hiệu quả dự án và dòng tiền thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp. Những tài sản phục vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và chế biến cần được xem xét phù hợp hơn trong cơ chế bảo đảm tín dụng.

Cùng với đó là đầu tư đồng bộ cho logistics, kho lạnh, trung tâm chế biến vùng, hệ thống truy xuất nguồn gốc và hạ tầng dữ liệu. Hợp tác xã cần được củng cố để trở thành cầu nối thực chất giữa nông dân và doanh nghiệp, giúp tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng và phân bổ lợi ích công bằng hơn trong chuỗi.

Quan trọng hơn, chế biến sâu không thể được xem là một khâu độc lập. Một nhà máy hiện đại chỉ phát huy hiệu quả khi có vùng nguyên liệu đạt chuẩn, dữ liệu đầy đủ, logistics phù hợp và thị trường đầu ra ổn định.

Nông sản Việt Nam có lợi thế lớn về nguồn nguyên liệu, kinh nghiệm sản xuất và ngày càng nhiều doanh nghiệp có năng lực chế biến. Nhưng để biến lợi thế đó thành những thương hiệu tỷ USD, ngành nông nghiệp phải chuyển từ tư duy “bán được nhiều” sang “tạo ra nhiều giá trị”.

Minh Châu

Tin liên quan