Nhu cầu tuyển dụng cao hơn số người tìm việc
Dữ liệu về tuyển dụng lao động tại TPHCM của Trung tâm Dịch vụ việc làm TPHCM (Sở Nội vụ) thống kê tháng 9 cho thấy, 21/27 nhóm ngành thiếu nguồn lao động so với nhu cầu tuyển dụng, gồm: Sản xuất - kỹ thuật, thương mại - bán hàng, tài chính - ngân hàng, xây dựng, logistics…
Nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp duy trì ở mức cao, trong khi số người tìm việc giảm từ 21.035 người trong tháng 8 xuống còn 17.686 người trong tháng 9. 3 nhóm ngành có nhu cầu tuyển dụng lớn nhất là: Vận hành máy, lao động kỹ thuật; kinh doanh, bán hàng, thương mại điện tử; may, dệt, da giày. Các ngành tài chính, xây dựng cũng có nhu cầu tuyển dụng hơn 1.400 vị trí mỗi ngành nhưng nguồn cung lao động thiếu khoảng 1/3 so với nhu cầu.
Xét theo trình độ, nhóm lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật có nhu cầu tuyển dụng lớn nhất, với 10.399 vị trí, trong khi số người tìm việc chỉ hơn 6.000 người. Ở nhóm lao động trình độ đại học, nhu cầu tuyển dụng cũng cao hơn số người tìm việc, với 7.581 vị trí và 5.409 người. Tuy nhiên, đầu việc tăng, nhu cầu tuyển dụng cao hơn số người tìm việc nhưng việc tuyển người của doanh nghiệp cũng không đơn giản.
Đại diện Công ty TNHH VietNam Concentrix Services (TPHCM) cho biết, công ty cần tuyển 100 - 200 nhân viên kiểm duyệt nội dung cho nhiều nền tảng công nghệ, mạng xã hội, thương mại điện tử và ứng dụng nghe nhạc quốc tế, với mức lương 10 - 13 triệu đồng/tháng.
Ứng viên bắt buộc biết tiếng Anh, Hàn, Nhật hoặc Trung và nhạy bén trong xử lý hình ảnh, âm thanh. Ngoài ngoại ngữ, công việc còn đòi hỏi khả năng xử lý lượng lớn thông tin và phản ứng nhanh trước các tình huống phát sinh trên nền tảng số. Vì vậy, dù nhu cầu tuyển dụng lớn, doanh nghiệp vẫn không dễ tìm được nhân sự đáp ứng yêu cầu.

Đối với khối sản xuất, ông Trần Minh Đức, Công ty cổ phần Sản xuất Nhựa Duy Tân nhấn mạnh, khi đưa ra yêu cầu tuyển người, bên cạnh chuyên môn và kinh nghiệm, người lao động cần có khả năng giải quyết vấn đề, phối hợp và học hỏi, nhất là trong môi trường sản xuất ngày càng tự động hóa. Doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng những người không chỉ đáp ứng công việc hiện tại mà còn có thể thích ứng với những thay đổi về công nghệ và quy trình.
Ông Nguyễn Hoàng Thanh Chương, Giám đốc Dịch vụ Tuyển dụng Công ty nhân sự Adecco Việt Nam dự báo nhu cầu tuyển dụng trong 6 tháng cuối năm tiếp tục tích cực. Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ thận trọng hơn khi tuyển dụng, ưu tiên nhân sự chuyên môn cao trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ, kỹ thuật, chuỗi cung ứng, dịch vụ tài chính và quản lý.
Cần người làm được việc
Theo bà Lương Tú Anh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH NodeX Asia, bên cạnh chuyên môn, doanh nghiệp quan tâm đến khả năng ứng viên đưa kiến thức vào công việc, chủ động giải quyết vấn đề và thích nghi với môi trường làm việc. Một ứng viên có bằng cấp phù hợp nhưng thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng phối hợp hoặc chưa quen với công nghệ mới vẫn cần thêm thời gian để bắt nhịp. Đặc biệt, với những công việc yêu cầu thay đổi nhanh, người lao động không chỉ vững chuyên môn mà còn phải biết sử dụng công nghệ, chủ động cập nhật kiến thức và làm việc nhóm hiệu quả. Đây là những năng lực không thể hiện đầy đủ chỉ qua văn bằng.
Lãnh đạo Công ty cổ phần Netalink cho biết, bằng cấp có thể giúp người lao động tạo lợi thế khi tìm việc nhưng để duy trì và phát triển nghề nghiệp, năng lực thực tế mới là yếu tố quan trọng. Người có khả năng học hỏi, thích ứng và nhanh chóng đáp ứng yêu cầu mới cũng có nhiều lợi thế hơn.
Ông Bùi Đoàn Chung, người sáng lập Cộng đồng Nghề nhân sự Việt Nam nhìn nhận, những thay đổi của thị trường tuyển dụng buộc người lao động phải chủ động hơn trong việc duy trì lợi thế nghề nghiệp. Kinh nghiệm vẫn là vốn quý nhưng khả năng học thêm, cập nhật kỹ năng và thích ứng với công nghệ ngày càng quan trọng. Doanh nghiệp ngày càng chú trọng năng suất, tính kỷ luật, khả năng vận hành máy móc và làm việc theo quy trình mới.
Báo cáo mới đây của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) về tình hình lao động, việc làm cho biết, hiện tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt gần 30%, tức còn khoảng 70% lực lượng lao động chưa thuộc nhóm này.
Tuy nhiên, theo ông Trần Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Giáo dục nghề nghiệp TPHCM, con số 70% lực lượng lao động chưa có bằng, chứng chỉ cần được nhìn nhận trong mối tương quan với thực tế đào tạo và sử dụng lao động. Một bộ phận người lao động được đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp, học nghề qua thực tế hoặc tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn nhưng chưa thuộc nhóm được thống kê là có bằng, chứng chỉ. Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là nâng tỷ lệ lao động có bằng, chứng chỉ mà còn phải bảo đảm những gì người lao động được học đáp ứng nhu cầu thực tế. Khoảng cách giữa chương trình đào tạo và yêu cầu công việc nếu không được thu hẹp sẽ khiến doanh nghiệp mất thêm thời gian đào tạo, trong khi người lao động dù có văn bằng vẫn khó đáp ứng ngay vị trí tuyển dụng.
Hà Phương







