Quay lại Dân trí
Nội vụ & Xã hội
  1. Lao động - Việc làm

Thu hẹp khoảng trống an sinh với lao động nền tảng số

Nền kinh tế số phát triển tạo ra lực lượng lao động linh hoạt, không gắn với quan hệ lao động truyền thống, dẫn đến yêu cầu hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội phù hợp đặc điểm việc làm mới.

Anh Nguyễn Văn Phong (phường Sơn Đồng, Hà Nội) đã làm công việc giao hàng thông qua nền tảng số hơn 4 năm. Theo anh, tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) là nhu cầu thực tế của những người làm nghề tự do nhưng mức đóng cần phù hợp khả năng thu nhập và thủ tục phải đơn giản, dễ thực hiện.

Chị Trần Thu Hà (phường Hoàng Mai, Hà Nội) đang kinh doanh trực tuyến kết hợp nhận việc trên các nền tảng số cho rằng, do thu nhập của lao động tự do không ổn định, nếu mở rộng chính sách BHXH, người lao động cần được thông tin rõ về mức đóng, quyền lợi được hưởng và cách xử lý trong những giai đoạn thu nhập thấp.

Những ý kiến từ thực tiễn cho thấy bài toán đặt ra không đơn thuần là đưa thêm một nhóm lao động vào diện tham gia BHXH mà còn phải thiết kế cơ chế phù hợp với sự đa dạng của thị trường việc làm.

Tại hội thảo quốc tế “Việc làm và an sinh xã hội cho người lao động làm việc trên nền tảng số tại Việt Nam” do Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp Ngân hàng Thế giới (WB) tổ chức, ông Christopher Sheldon, Giám đốc Quản lý Danh mục Đầu tư, WB tại Việt Nam, Campuchia và Lào cho biết, các doanh nghiệp nền tảng tại Việt Nam được ước tính tạo cơ hội việc làm cho khoảng 2 triệu người.

Khảo sát của WB đối với gần 5.000 người lao động trên nhiều nền tảng số tại Việt Nam cho thấy, hơn 90% số người được hỏi coi công việc trên nền tảng là nguồn thu nhập chính, trong khi chỉ khoảng 1/5 tham gia BHXH. Kết quả cho thấy nhiều lao động mong muốn được bảo vệ trước các rủi ro về sức khỏe, tai nạn, ốm đau và bảo đảm thu nhập khi về già. Một bộ phận sẵn sàng đóng góp vào hệ thống BHXH nếu chính sách dễ tiếp cận, linh hoạt và phù hợp với đặc điểm thu nhập.

Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Trần Đình Liệu cho biết, sự gia tăng nhanh của những hình thức việc làm linh hoạt, phi truyền thống đang đặt ra yêu cầu mới đối với hệ thống an sinh xã hội. Với lao động nền tảng số, cần đồng thời giải quyết các vấn đề: Ai thuộc diện tham gia, căn cứ đóng là gì, mức đóng và phương thức đóng ra sao, trách nhiệm của người lao động và doanh nghiệp nền tảng được xác định thế nào.

Đây không phải bài toán đơn giản, bởi lao động trên nền tảng số có đặc điểm rất khác nhau. Có người làm việc toàn thời gian, người chỉ làm bán thời gian; có người chỉ sử dụng một nền tảng, trong khi người khác cùng lúc làm việc cho nhiều nền tảng. Mức độ tự chủ và sự phụ thuộc vào doanh nghiệp vận hành nền tảng cũng không giống nhau.

Vì vậy, việc xác định đối tượng tham gia không thể chỉ dựa vào tên gọi của hợp đồng hay hình thức làm việc. Chính sách cần xem xét bản chất công việc và mức độ phụ thuộc thực tế, đồng thời làm rõ quan hệ giữa người lao động với doanh nghiệp cung cấp nền tảng.

Tại Hội nghị Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ nhất, nhiệm kỳ khóa XVI, chiều 29/9, ông Lâm Văn Đoan, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định, pháp luật về lao động, việc làm, BHXH và an sinh xã hội chưa được điều chỉnh kịp thời đối với nhóm lao động nền tảng số, dẫn tới khoảng trống pháp lý.

Đại biểu Lý Thị Lan, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang cho rằng, khi chuyển từ khuyến khích sang bắt buộc tham gia, luật cần xác định rõ ai thuộc diện bắt buộc, thời điểm phát sinh nghĩa vụ và tiêu chí nhận diện. Các nội dung về mức đóng, phương thức thu, nộp có thể giao cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết.

Bên cạnh hoàn thiện quy định pháp luật, năng lực quản lý dữ liệu cũng là yếu tố quan trọng. Khi một người có nhiều nguồn thu nhập, cơ quan chức năng cần có phương thức xác định nghĩa vụ phù hợp, hạn chế nguy cơ đóng trùng hoặc phát sinh thủ tục phức tạp.

Với khoảng 2 triệu cơ hội việc làm được tạo ra từ các doanh nghiệp nền tảng và quy mô còn tiếp tục gia tăng, yêu cầu thu hẹp khoảng trống an sinh ngày càng rõ nét. Muốn vậy, chính sách cần nhận diện đúng đối tượng, hiểu đúng đặc điểm việc làm và xây dựng cơ chế tham gia đủ linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi lâu dài.

          Minh Châu

Tin liên quan