Nghị quyết số 221/NQ-CP của Chính phủ xác định rõ nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển đổi số, liên thông dữ liệu và chuẩn hóa phần mềm phục vụ vận hành mô hình mới.
Động lực mới cho chính quyền địa phương 2 cấp
TP Huế đang tăng cường phát triển hệ thống “Điểm hỗ trợ xã hội số” nhằm đưa kỹ năng số trở thành kỹ năng thiết yếu của mỗi người dân. Hệ thống “Điểm hỗ trợ xã hội số” được các địa phương xây dựng bằng những mô hình cụ thể, trong đó tiêu biểu và phát huy hiệu quả là “Nhà văn hóa số” tại phường An Cựu được triển khai từ ngày 19/7 ở 2 Tổ dân phố 22 và 24. Đến với “Nhà văn hóa số”, người dân được hỗ trợ, hướng dẫn quy trình thực hiện các dịch vụ thiết yếu trên môi trường số như dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt, sử dụng Sổ sức khỏe điện tử, Sổ BHXH điện tử cùng các dịch vụ trực tuyến khác.
Thành phố phấn đấu đến hết năm 2026 có 100% xã, phường duy trì hoạt động “Điểm hỗ trợ xã hội số”; 100% “Điểm hỗ trợ xã hội số” hoạt động tối thiểu 2 buổi/tuần; 80% hộ dân trên địa bàn phường, xã được phổ cập kỹ năng số; tối thiểu 30% dân số trưởng thành trên địa bàn phường, xã có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân.
Đầu tháng 8, UBND TP Huế ban hành Kế hoạch triển khai phong trào “Hành trình số Cố đô” với khẩu hiệu: Mỗi người dân thành thạo kỹ năng số - Mỗi gia đình sử dụng dịch vụ số - Mỗi xã, phường xây dựng cộng đồng số; là hoạt động trọng tâm nhằm cụ thể hóa phong trào “Bình dân học vụ số”.
Tại Quảng Trị, chuyển đổi số tạo ra những chuyển biến rõ nét trong công tác quản trị. Sau một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, địa phương đạt nhiều kết quả tích cực trên cả 3 trụ cột: Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Một trong những kết quả nổi bật là Quảng Trị hoàn thành 100% chỉ tiêu làm sạch dữ liệu dân cư, đứng đầu cả nước; dữ liệu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được đối khớp với dữ liệu dân cư đạt 99,9%; gần 1,9 triệu thửa đất được chuẩn hóa dữ liệu, đạt 77,5%. Nhiều mô hình sáng tạo được tỉnh triển khai như: “Chú Công an Bố Trạch AI”, “Livestream giải quyết thủ tục hành chính”, “Điểm truy cập internet cộng đồng - Bình dân học vụ số"…
Trong lĩnh vực xây dựng Đảng, địa phương đẩy mạnh số hóa hồ sơ, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu tổ chức đảng, đảng viên và cán bộ; triển khai hệ thống điều hành tác nghiệp, văn bản điện tử, chữ ký số và Sổ tay đảng viên điện tử.
Điểm đáng chú ý trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp là sự xuất hiện ngày càng nhiều mô hình sáng tạo từ cơ sở, góp phần hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ số và nâng cao chất lượng phục vụ.

Tại Tây Ninh, các đội hình “Bình dân học vụ số”, “IT áo xanh” và Tổ công nghệ số cộng đồng đã trở thành lực lượng hỗ trợ đắc lực cho chính quyền cơ sở. Năm 2025, toàn tỉnh tổ chức hơn 2.800 hoạt động chuyển đổi số với hơn 10.000 lượt đoàn viên, thanh niên tham gia, hỗ trợ hơn 90.000 lượt người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số.
Tại nhiều phường, xã, phong trào “Bình dân học vụ số” được triển khai ngay tại khu dân cư và chợ dân sinh, hướng dẫn người dân sử dụng VNeID, chữ ký số, Mini App Zalo và các dịch vụ công trực tuyến. Đây là mô hình thiết thực giúp hình thành thói quen sử dụng dịch vụ số từ cơ sở, góp phần xây dựng chính quyền số và xã hội số.
Gỡ “điểm nghẽn” để bộ máy vận hành hiệu quả hơn
Sau hơn một năm thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, thực tiễn cho thấy chủ trương lớn của Đảng đang tạo chuyển biến rõ rệt. Bộ máy từng bước tinh gọn, phân cấp mạnh hơn, nhiều việc được giải quyết ngay tại cơ sở. Song, những điểm nghẽn cũng đã bộc lộ, đòi hỏi tiếp tục tháo gỡ để mô hình mới vận hành ngày càng hiệu lực, hiệu quả.
Trong Thông báo kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị đã chỉ rõ: Sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, chuyển đổi số đã góp phần quan trọng bảo đảm hoạt động thông suốt của hệ thống chính trị, phục vụ vận hành mô hình tổ chức mới và chính quyền 3 cấp. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được lại nổi lên những nghịch lý lớn.
Thứ nhất, nguồn lực được bố trí nhưng chưa được sử dụng hiệu quả, trong khi tỷ lệ giải ngân cho chuyển đổi số đến nay đạt hơn 12,2%, thấp hơn nhiều so với mức giải ngân đầu tư công chung của cả nước. Nhiều xã vẫn thiếu thiết bị, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực để làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu.
Thứ hai, nhiều hệ thống, nền tảng và cơ sở dữ liệu được đầu tư nhưng mức độ liên thông, chia sẻ và khai thác chưa tương xứng khiến không ít cán bộ, công chức phải làm việc đồng thời trên nhiều phần mềm khác nhau của Trung ương và địa phương.
Thứ ba, kết quả triển khai giữa các địa phương còn chênh lệch, nơi làm tốt, nơi lại chậm trễ, viện dẫn khó khăn, vướng mắc.
Việc này cho thấy điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn ở nhận thức, chủ trương hay việc bố trí nguồn lực mà ở năng lực tổ chức thực hiện và trách nhiệm đến cùng của từng cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu. Vì vậy, yêu cầu trọng tâm trong thời gian tới là phải siết chặt kỷ luật thực thi, xác định rõ trách nhiệm, đánh giá theo sản phẩm đầu ra và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.
Chính vì vậy, Kế hoạch hành động 100 ngày, triển khai từ 10/7 đến hết 30/11, được Trung ương ban hành với yêu cầu rất rõ là xử lý dứt điểm các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, tạo chuyển biến rõ rệt trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị, điều hành và phục vụ của 4 khối cơ quan: Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc; bảo đảm hoạt động của hệ thống chính trị và chính quyền 3 cấp vận hành đồng bộ, thông suốt, an toàn, dựa trên dữ liệu. Mọi nhiệm vụ đều phải “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả” và chỉ được công nhận hoàn thành khi có sản phẩm đáp ứng đầy đủ yêu cầu, tiêu chí cũng như kiểm chứng được.
Tinh thần ấy cũng được Chính phủ quán triệt trong Chỉ thị số 29/CT-TTg về đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số năm 2026. Thủ tướng đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương rà soát toàn bộ danh mục nhiệm vụ; tăng phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát; tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu quốc gia, các cơ sở dữ liệu lớn, nền tảng số dùng chung và các dự án chuyển đổi số phục vụ hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp.
Có thể thấy, sau hơn một năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ngày càng chứng minh hướng đi đúng nhưng cũng bộc lộ nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện. Khi dữ liệu được kết nối, thủ tục tiếp tục được đơn giản hóa, đội ngũ cán bộ cơ sở được đào tạo, bố trí phù hợp và trách nhiệm của người đứng đầu được siết chặt hơn, bộ máy sẽ vận hành hiệu quả hơn, người dân và doanh nghiệp được phục vụ tốt hơn.
Thái An







