Nhà ở ra ngoại thành, việc làm vẫn ở phố lớn
Nhà cách nơi làm việc khoảng 20km, mỗi ngày chị Nguyễn Lan Anh (Sơn Đồng, Hà Nội) phải dành khoảng 3 tiếng cho việc đi lại từ nhà đến phố Bà Triệu. Khoảng cách ấy trở thành gánh nặng vào những ngày mưa, khi đường phố thường xuyên ùn tắc.
“Ngày thường đi làm đã đủ vất vả. Người ta 8h30 vào làm, hơn 8h đi vẫn có thể đến sớm, còn tôi phải lục đục từ 5h30, chưa kể đưa đón con đi học. Trời nắng thì như mực phơi khô trên đường, trời mưa thì chỉ mong tìm được lối về”, chị Lan Anh chia sẻ.
Tình cảnh tương tự cũng xảy ra với nhiều lao động sống ở ven đô. Anh Minh Đỗ làm việc tại trung tâm thành phố nhưng nhà cách công ty khoảng 12km. Quãng đường không quá lớn nếu xét riêng về khoảng cách song khi đặt trong điều kiện giao thông đô thị đông đúc, thời gian đi lại mỗi ngày trở thành một phần đáng kể trong quỹ thời gian của người lao động.
Không chỉ mất thời gian và chi phí, khoảng cách giữa nhà và nơi làm việc còn ảnh hưởng đến đời sống xã hội. “Nhiều lúc cũng nản nhưng để thuê nhà gần công ty đòi hỏi nhiều chi phí nên đành chấp nhận”, anh Minh nói.
Theo Công ty môi giới đầu tư bất động sản thương mại Cushman & Wakefield Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm, Hà Nội có khoảng 11.000 căn hộ mở bán mới. Riêng quý II có gần 4.700 căn, trong đó khoảng 48% nguồn cung nằm tại khu vực ngoại thành và 44% ở rìa trung tâm.
Sự dịch chuyển nguồn cung nhà ở ra ngoài khu vực lõi diễn ra trong bối cảnh giá căn hộ tại Hà Nội ngày càng vượt xa khả năng chi trả của một bộ phận người dân. Trong khi đó, nguồn cung căn hộ bình dân ngày càng hạn chế. Với những người có nhu cầu sở hữu nhà nhưng khả năng tài chính có giới hạn, các dự án nhà ở xã hội trở thành một trong những lựa chọn đáng chú ý.
Trong năm 2026, phần lớn dự án nhà ở xã hội của Hà Nội cũng được triển khai tại các khu vực ngoại thành như: Đông Anh, Mê Linh, Hoài Đức, Gia Lâm, Đan Phượng, Thường Tín, Thạch Thất, Quốc Oai...
Theo bà Lê Hoàng Lan Như Ngọc, Giám đốc cấp cao, Trưởng bộ phận Tư vấn Chiến lược Công ty môi giới đầu tư bất động sản thương mại Cushman & Wakefield Việt Nam, nguồn cung nhà ở trong trung và dài hạn được kỳ vọng tiếp tục mở rộng tại khu vực ngoại thành khi Hà Nội đẩy mạnh giãn dân, phát triển đô thị đa cực và cải thiện hạ tầng giao thông. Các khu vực ngoại thành có lợi thế về quỹ đất và dư địa phát triển, qua đó tạo điều kiện hình thành mặt bằng giá dễ tiếp cận hơn so với nội đô.

Tuy nhiên, một nghịch lý đang đặt ra: Người dân có thể chuyển nhà ra ngoại thành nhưng chưa thể chuyển việc theo nơi ở.
Các phường khu vực lõi vẫn tập trung số lượng lớn doanh nghiệp, văn phòng, cơ sở thương mại và dịch vụ. Vì vậy, ngay cả khi cư dân tìm được căn hộ phù hợp hơn ở vùng ven, họ vẫn phải di chuyển vào trung tâm để làm việc, học tập hoặc sử dụng dịch vụ. Khi hàng vạn người cùng di chuyển theo hướng từ vùng ven vào lõi đô thị vào buổi sáng và ngược lại vào cuối ngày, áp lực giao thông khó giải quyết được chỉ bằng việc phát triển thêm nhà ở.
Không chỉ giãn dân, phải giãn cả việc làm
Để dòng người không tiếp tục dồn vào nội đô mỗi ngày, Hà Nội cần giải bài toán ở chiều ngược lại: Tạo đủ điều kiện để doanh nghiệp lựa chọn đặt cơ sở tại các khu vực vệ tinh.
Điều này không đồng nghĩa với việc đưa toàn bộ doanh nghiệp ra khỏi khu vực lõi. Với những ngành nghề phụ thuộc vào vị trí trung tâm, khách hàng và mạng lưới dịch vụ vẫn có lý do để duy trì hoạt động tại nội đô. Vấn đề là tạo thêm lựa chọn về địa điểm cho những hoạt động không nhất thiết phải tập trung ở trung tâm.
Với doanh nghiệp, quyết định lựa chọn địa điểm không chỉ dựa vào giá đất. Khả năng tiếp cận người lao động, chất lượng giao thông, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ và chi phí vận hành đều là những yếu tố quan trọng. Do đó, các khu vực vệ tinh chỉ có thể thu hút doanh nghiệp nếu hội đủ những điều kiện cần thiết thay vì chỉ dựa vào lợi thế quỹ đất rẻ.
Theo GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT (nay là Bộ NN&MT), khả năng tạo việc làm chính là “sức sống” của đô thị. Một cực phát triển không chỉ cần việc làm mà còn phải có khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế khác, đồng thời hình thành hệ thống dịch vụ, tiện ích đủ sức hấp dẫn cư dân. Khi đó, các khu vực vệ tinh mới có thể vượt khỏi vai trò đơn thuần là nơi giãn dân để trở thành những cực phát triển có khả năng tự tạo động lực kinh tế.
Thực tế, nhà ở chỉ là điểm khởi đầu của quá trình dịch chuyển dân cư. Một khu đô thị chỉ thực sự phát triển khi người dân có thể sinh sống, làm việc và tiếp cận những dịch vụ thiết yếu ngay trong khu vực. Dân cư tăng lên sẽ kéo theo nhu cầu về việc làm, thương mại, trường học, bệnh viện và các dịch vụ đô thị. Nếu các nhu cầu này được phát triển đồng bộ, vùng ven có thể hình thành những trung tâm mới, giảm dần sự phụ thuộc vào khu vực nội đô.
Khi đó, áp lực không chỉ về dân số mà cả giao thông, trường học, bệnh viện và các dịch vụ công cũng có cơ hội được phân bổ hợp lý hơn giữa các khu vực. Đây là điều kiện quan trọng để Hà Nội vừa bảo tồn khu vực lõi lịch sử, vừa mở rộng không gian phát triển về các cửa ngõ và đô thị vệ tinh.
Ngược lại, nếu chỉ xây dựng thêm nhà ở mà thiếu việc làm và dịch vụ đi kèm, các khu đô thị mới rất dễ trở thành những “đô thị ngủ”. Ban ngày, cư dân rời nhà để vào trung tâm làm việc; cuối ngày, dòng người lại ùn ùn trở về. Khi ấy, khoảng cách địa lý giữa nơi ở và nơi làm việc không được giải quyết mà chỉ làm dài thêm hành trình đi lại.
Hà Nội cần từng bước giãn việc làm, giãn dịch vụ và hình thành những cực đô thị có sức sống riêng. Đó mới là nền tảng để quá trình tái cấu trúc không gian đô thị của Thủ đô thực sự đi vào chiều sâu, thay vì chỉ đơn thuần chuyển chỗ ở của người dân từ trung tâm ra vùng ven.
Châu Anh







