Mùa cao điểm mở rộng cơ hội xuất khẩu
Những tháng cuối năm thường là thời điểm các nhà nhập khẩu tăng mua thủy sản phục vụ mùa lễ hội, kỳ nghỉ và nhu cầu tiêu dùng dịp tết. Theo ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thủy sản cần duy trì mức xuất khẩu khoảng 1 tỷ USD mỗi tháng trong những tháng cuối năm để góp phần hoàn thành mục tiêu xuất khẩu 74 tỷ USD của toàn ngành nông, lâm, thủy sản.
Tôm tiếp tục là mặt hàng được kỳ vọng đóng góp lớn vào kết quả chung. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu tôm 9 tháng đạt khoảng 3,75 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ, chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch thủy sản.
Nhu cầu phục vụ mùa lễ hội và hoạt động bổ sung hàng tồn kho của các nhà nhập khẩu có thể tạo thêm động lực cho mặt hàng này. Trung Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc) nổi lên như một điểm đến quan trọng. Trong 9 tháng, xuất khẩu thủy sản sang thị trường này đạt 2,3 tỷ USD, tăng 33%.
Các thị trường ASEAN và Hàn Quốc cũng duy trì đà tăng. Việc tận dụng tốt những thị trường gần giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn đầu ra, nhất là khi hoạt động xuất khẩu sang một số thị trường lớn khác gặp trở ngại.
Dù vậy, nhu cầu cao không đồng nghĩa doanh nghiệp chắc chắn bán được nhiều hàng với giá tốt. Khi nhiều nhà cung cấp cùng hướng đến mùa cao điểm, cạnh tranh về giá, chất lượng, quy cách sản phẩm và thời gian giao hàng sẽ gay gắt hơn. Nếu không chủ động nguồn nguyên liệu và kế hoạch sản xuất, doanh nghiệp có thể bỏ lỡ đơn hàng hoặc phải chấp nhận biên lợi nhuận thấp để giữ khách.
Áp lực thuế, chi phí và tiêu chuẩn
Thách thức thể hiện rõ tại Mỹ, EU và Nhật Bản, những thị trường có vai trò quan trọng đối với thủy sản Việt Nam. Trong tháng 9, xuất khẩu sang Mỹ giảm 3,4%, EU giảm 12,8% và Nhật Bản giảm 13,7%. Tính chung 9 tháng, kim ngạch sang Mỹ đạt 1,43 tỷ USD, chỉ tăng 0,9%; EU đạt 843 triệu USD, giảm 3%; Nhật Bản đạt 1,25 tỷ USD, tăng 0,8%.
Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng thư ký VASEP, hoạt động giao dịch tại Mỹ tiếp tục chịu ảnh hưởng từ thuế bổ sung và các yêu cầu liên quan đến bảo vệ động vật có vú biển (MMPA). Với tôm, mức thuế theo Điều 301 là 12,5%, cao hơn mức 10% của một số đối thủ. Kết quả rà soát thuế chống bán phá giá cũng có thể tác động trực tiếp đến quyết định đặt hàng trong quý IV.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp phải tính toán kỹ giá bán và chi phí trước khi ký hợp đồng, đồng thời chuẩn bị phương án ứng phó nếu chính sách thuế thay đổi. Chạy theo sản lượng bằng cách giảm giá có thể giúp duy trì đơn hàng trước mắt nhưng làm suy giảm hiệu quả kinh doanh.
Một hướng đi để nâng sức cạnh tranh là tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng. Ông Lê Văn Quang, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú cho biết, Mỹ đã trở thành thị trường lớn nhất của doanh nghiệp, vượt Nhật Bản. Theo ông, mức chênh lệch thuế hiện nay chưa đủ lớn để làm suy giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của các sản phẩm giá trị gia tăng. Minh Phú cũng đang đẩy mạnh tự động hóa, hướng tới tự động hóa 70 - 80% hoạt động sản xuất nhằm nâng cao năng lực chế biến.
Ngoài tôm, cá tra cũng có cơ hội tăng tốc khi xuất khẩu tháng 9 đạt khoảng 214 triệu USD, tăng 18,6%; lũy kế 9 tháng đạt 1,74 tỷ USD, tăng 10,7%. Nguồn cung một số loại cá thịt trắng khai thác tự nhiên thắt chặt và giá cá tuyết cao tạo thêm dư địa cho cá tra Việt Nam tại EU. Trung Đông và ASEAN cũng là những thị trường doanh nghiệp có thể đẩy mạnh khai thác.
Đối với cá ngừ, mực, bạch tuộc và hải sản khai thác, khả năng tận dụng nhu cầu cuối năm phụ thuộc nhiều vào việc đáp ứng yêu cầu về nguồn gốc và truy xuất nguyên liệu. Theo VASEP, để đạt mục tiêu xuất khẩu, doanh nghiệp cần kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu, tiến độ giao hàng, hồ sơ truy xuất và chi phí phát sinh.
Mùa cao điểm cuối năm vừa là cơ hội mở rộng thị trường, vừa là phép thử năng lực cạnh tranh của ngành thủy sản. Khả năng tận dụng nhu cầu không chỉ được quyết định bởi số lượng đơn hàng mà còn ở việc doanh nghiệp giao hàng đúng hạn, đáp ứng tiêu chuẩn và bảo đảm lợi nhuận trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn.
KHÁNH LINH







