Tháng trước, các nhân viên làm việc tại Anh của Google DeepMind, phòng thí nghiệm nghiên cứu AI của Google, đã quyết định thành lập công đoàn. Một trong những động lực của họ là mối lo ngại rằng nhà tuyển dụng đang cung cấp công cụ AI cho lực lượng quân đội.
Trước đó, hồi tháng 4, hơn 600 nhân viên của Google đã gửi thư cho giám đốc điều hành của công ty Sundar Pichai, yêu cầu ông từ chối bất kỳ hợp đồng nào với Lầu Năm Góc mà sẽ triển khai AI của Google cho bất kỳ công việc mật nào - nhằm đảm bảo nó không thể bị sử dụng cho các vũ khí tự trị sát thương hoặc giám sát hàng loạt. “Cách duy nhất để đảm bảo Google không bị liên quan đến những tác hại như vậy là từ chối mọi khối lượng công việc mật”, họ viết.
Những lo ngại về AI
Trên khắp ngành công nghiệp công nghệ, những người hiểu rõ AI nhất - người viết mã, đào tạo mô hình và chứng kiến khả năng của nó mở rộng trong thời gian thực - ngày càng lo ngại trước những gì họ đang xây dựng và phục vụ.
Một số người, như nhân viên Google e ngại rằng họ đang đóng góp cho các phát triển quân sự mạo hiểm. Những người khác lo lắng rằng AI tạo ra mối đe dọa đối với việc làm - công việc của chính họ, cũng như trong các ngành công nghiệp rộng lớn như nghệ thuật, truyền thông, luật và ngân hàng. Những người khác lại lo ngại về hệ lụy đối với quyền riêng tư từ công nghệ mới này.
Bằng cách liên kết lại với nhau, họ cho rằng những người tiếp xúc gần nhất với sự phát triển của AI cần có tiếng nói trong việc định hướng nó. Họ có thể nhìn thấy rủi ro trước cả các nhà quản lý, nhà lập pháp hay công chúng. Lắng nghe họ không chỉ là vấn đề công bằng tại nơi làm việc mà còn rất cần thiết đối với xã hội trong việc quản trị định hướng của AI.
Sự lo ngại của nhân viên công nghệ về tác động xã hội từ công việc của chính họ không phải là điều mới mẻ.
Vào năm 2018, các nhân viên Google đã tổ chức một chiến dịch lớn chống lại sự tham gia của công ty vào Dự án Maven, một sáng kiến của Lầu Năm Góc sử dụng học máy để phân tích cảnh quay từ máy bay không người lái. Họ đã lan truyền bức thư ngỏ, đặt ra những câu hỏi hóc búa tại các cuộc họp của công ty và tạo một nhóm trực tuyến để nêu lên những lo ngại và thảo luận về các cách phản ứng. Hành động đó đã đem lại hiệu quả, cuối cùng Google thông báo không gia hạn hợp đồng trong dự án trên.
Nhân sự công nghệ cùng lên tiếng
Các nhân sự trong toàn ngành công nghệ đã hiểu được thông điệp: Nếu hành động tập thể, họ có thể thực thi quyền lực thực sự đối với những gì công ty của họ xây dựng.
Các nhân viên hợp đồng của Google tại thành phố Pittsburgh (Mỹ) đã bỏ phiếu thành lập công đoàn vào năm 2019; nhân viên của công ty Kickstarter đã thành lập một trong những công đoàn công nghệ toàn công ty đầu tiên vào năm 2020; công đoàn nhân viên

Alphabet được thành lập vào năm 2021; nhân viên công nghệ của báo New York Times đã bỏ phiếu áp đảo để thành lập công đoàn vào năm 2022. Phong trào công đoàn trong lực lượng nhân sự công nghệ không còn chỉ là lý thuyết.
Tuy nhiên, bất chấp các hoạt động này, việc tổ chức của nhân viên công nghệ vẫn chưa được mở rộng quy mô. Tỷ lệ thành viên công đoàn khu vực tư nhân ở tất cả các ngành công nghiệp tại Mỹ đã giảm còn 6%, mặc dù gần 70% người Mỹ ủng hộ các công đoàn. Khu vực dịch vụ chuyên môn và kỹ thuật thậm chí còn ít tham gia công đoàn hơn toàn bộ khu vực tư nhân nói chung - chỉ đạt mức 1,3%. Vì sao như vậy? Câu trả lời là yếu tố văn hóa.
Nhân viên công nghệ thường coi bản thân họ là những chuyên gia đứng cùng chiến tuyến với giới quản lý, chứ không phải người lao động thông thường; họ đồng nhất mình với sứ mệnh được tuyên bố của công ty là thúc đẩy đổi mới và giải quyết các thách thức phức tạp. Họ được trả lương cao và tận hưởng những điều kiện mà những nhân viên khác có thể ghen tị.
Nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy văn hóa nghề nghiệp đặc thù của ngành công nghiệp công nghệ cũng có thể tạo điều kiện cho hành động tập thể. Nhân viên công nghệ thường chọn nghề nghiệp của họ một phần vì tin rằng công nghệ có thể mang lại lợi ích cho xã hội. Ví dụ, khi nhà tuyển dụng của họ vi phạm niềm tin đó bằng cách xây dựng hệ thống nhắm mục tiêu cho máy bay không người lái, hỗ trợ các cơ quan thực thi nhập cư hoặc khai thác chuyên môn của nhân sự để đào tạo các chương trình thay thế họ, nhiều người coi đó là một sự phản bội sâu sắc.
Tuy nhiên, việc biến những nỗi thất vọng đó thành một tổ chức bền vững đều đối mặt các trở ngại pháp lý. Bất chấp những khó khăn, các nhân viên công nghệ tại Mỹ có nhiều quyền lực hơn họ tưởng.
Các vị trí nhân sự công nghệ, đặc biệt là các kỹ sư xây dựng AI tạo sinh, thường rất tốn kém để tuyển dụng, đào tạo và khó bị thay thế. Họ hiểu rõ các hệ thống mà họ đang xây dựng tốt hơn các nhà quản lý đang cố gắng kiểm soát chúng, tốt hơn các giám đốc điều hành đang triển khai chúng và chắc chắn là tốt hơn giới chuyên gia đang tranh luận về hậu quả của các hệ thống đó. Khi họ hành động tập thể có thể giúp bảo vệ không chỉ lợi ích của chính mình mà còn cả lợi ích rộng lớn hơn của xã hội.
Nếu thế giới muốn có chính sách AI thực sự mang lại lợi ích cho công chúng, các quyết định không thể chỉ được đưa ra bởi riêng các giám đốc điều hành hay các nhà đầu tư. Người lao động phải có tiếng nói trong những gì họ xây dựng, công nghệ phục vụ ai và được sử dụng như thế nào.
Nếu làm được như vậy, con người sẽ có cơ hội tốt hơn để sống cùng với công nghệ được quản trị bởi các giá trị cơ bản, chứ không chỉ đơn thuần là từ các quyết định của giới lãnh đạo doanh nghiệp.
NINH TRẦN (theo CNA)







