Khơi thông nguồn lực khổng lồ từ các dự án “đắp chiếu”
Theo Bộ Tài chính, đến hết quý I, cả nước có gần 4.490 dự án gặp khó khăn, vướng mắc, với tổng diện tích khoảng 200.000 ha đất chưa được khai thác. Quy mô nguồn lực bị “đóng băng” ước tính lên tới 3,3 triệu tỷ đồng, gấp 3 lần kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 (khoảng 1,1 triệu tỷ đồng). Các chuyên gia nhận định, nếu số dự án này được xử lý đồng bộ, GDP có thể tăng thêm từ 1 - 2%, tạo cú hích đáng kể cho tăng trưởng kinh tế.
Một bước tiến quan trọng là việc Quốc hội thông qua Nghị quyết 29 về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý vi phạm đất đai phát sinh trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, đồng thời tháo gỡ vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Tại Hà Nội, chính quyền thành phố đã có động thái mạnh mẽ khi “ra tối hậu thư” với hơn 341 dự án chậm triển khai. Động thái này thể hiện quyết tâm tái khởi động các nguồn lực đất đai bị bỏ hoang nhiều năm.
Ông Nguyễn Thanh Liêm, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Quang Minh (Hà Nội) cho biết sau khi thu hồi, các dự án sẽ được đưa ra đấu thầu quốc tế, dự kiến đóng góp 30.000 - 40.000 tỷ đồng cho ngân sách địa phương.
Thực tế, một dự án được tái khởi động không chỉ tạo việc làm, tiêu thụ vật liệu mà còn mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách. Riêng Hà Nội, nếu toàn bộ 341 dự án chậm tiến độ được “hồi sinh”, nguồn thu có thể lên tới hàng triệu tỷ đồng.
Theo TS Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, dự án đầu tư là trung tâm phân phối dòng tiền và hàng hóa. Khi các dự án bị đình trệ, toàn bộ hệ sinh thái liên quan đều bị ảnh hưởng.
Cụ thể, sự ách tắc này làm đứt gãy 3 dòng chảy quan trọng của nền kinh tế: Dòng tiền thanh toán bị ngưng trệ do vướng mắc pháp lý; dòng tín dụng bị hạn chế khi tài sản không đủ điều kiện bảo đảm; dòng thủ tục hành chính bị “kẹt” ở các khâu đất đai, quy hoạch, xây dựng.
Đáng chú ý, các doanh nghiệp nhỏ và vừa dù không quyết định tiến độ dự án lại chịu rủi ro lớn nhất khi đứng cuối chuỗi giá trị. Nhiều nhà thầu đã thi công khối lượng lớn nhưng không được nghiệm thu, dẫn đến công nợ kéo dài, phát sinh nợ xấu và mất khả năng tiếp cận tín dụng.
Theo TS Tô Hoài Nam, việc khơi thông hàng ngàn dự án không chỉ mang lại hiệu quả tăng trưởng ngắn hạn, việc “đánh thức 3,3 triệu tỷ đồng” sẽ kích hoạt một chu kỳ tăng trưởng bứt phá, lan tỏa và bền vững từ mở rộng tổng cầu đến nâng cao năng lực cung ứng và củng cố niềm tin thị trường.
Không chỉ gỡ vướng mà còn để không tái diễn
Để đạt kết quả bước đầu, Chính phủ và các bộ, ngành đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Bộ Tài chính - Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng (Ban Chỉ đạo 751) đã xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về các dự án tồn đọng (Hệ thống 751), giúp chuẩn hóa thông tin và nâng cao hiệu quả giám sát.
Bên cạnh đó, hàng loạt nghị quyết, công điện, nghị định hướng dẫn đã được ban hành, tập trung tháo gỡ khó khăn trong các lĩnh vực trọng điểm như năng lượng, y tế, đô thị. Các đoàn công tác của Chính phủ cũng trực tiếp làm việc với địa phương, xử lý nhiều dự án lớn, phức tạp.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 24-KL/TW về tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng kéo dài định hướng tiếp tục tháo gỡ vướng mắc cho các dự án tồn đọng. Điểm đáng chú ý là không xác định sẵn danh mục dự án mà chỉ xem xét những trường hợp đã có kết luận thanh, kiểm tra hoặc bản án của tòa án, nhằm đảm bảo chặt chẽ về pháp lý.
Bên cạnh đó là chủ trương xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các sai phạm ngoài phạm vi quy định hiện hành. Đây được xem là “chìa khóa” để tháo gỡ những vướng mắc mang tính lịch sử, tồn tại qua nhiều giai đoạn và không thể xử lý dứt điểm nếu chỉ áp dụng các quy định hiện hành.
Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng đặt ra yêu cầu rất rõ ràng đó là việc áp dụng cơ chế đặc thù phải tuân thủ nghiêm các nguyên tắc như không hợp pháp hóa sai phạm, không làm phát sinh sai phạm mới, có phương án khắc phục thiệt hại và bảo đảm nhà đầu tư thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Cùng với đó, việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án sẽ được thực hiện đồng thời với quá trình xử lý trách nhiệm theo các kết luận thanh, kiểm tra, bản án.
Ngoài ra, Bộ Chính trị cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong toàn bộ quá trình xử lý, kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm, không để phát sinh những “điểm nghẽn” mới.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việt Nam, giải pháp cốt lõi là gắn trách nhiệm người đứng đầu với tiến độ xử lý dự án, thiết lập cơ chế giám sát độc lập và đánh giá cán bộ dựa trên kết quả đầu ra. Việc giám sát cần đi đến “sản phẩm cuối cùng”, như số dự án được khơi thông, số hồ sơ được xử lý, hay số dự án được tái khởi động.
GS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước cho rằng, tình trạng dự án tồn đọng kéo dài nhiều năm đã gây lãng phí lớn và bức xúc xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, nếu không xử lý dứt điểm các dự án này, chúng sẽ trở thành rào cản thay vì động lực phát triển.
Việc khơi thông các dự án không chỉ là giải pháp kinh tế mà còn là bước nâng cấp năng lực quản lý, điều hành. Khi các nguồn lực đất đai, vốn và lao động được đưa trở lại vòng quay, nền kinh tế sẽ có thêm dư địa để bứt phá.
Bài toán hiện nay không chỉ là gỡ vướng mà còn là làm sao để không tái diễn những điểm nghẽn mới, qua đó đảm bảo mỗi dự án thực sự trở thành một mắt xích hiệu quả trong chuỗi tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
Châu Anh







