Quay lại Dân trí
Nội vụ & Xã hội
  1. Đời sống - Kinh tế - Xã hội

“Hóa vàng” từ rơm rạ: Cơ hội lớn từ kinh tế tuần hoàn nông nghiệp

Bài toán xử lý hàng chục triệu tấn rơm rạ không còn là câu chuyện môi trường đơn thuần mà đang mở ra một không gian Phế phẩm “lột xác” thành tài nguyên

Phế phẩm “lột xác” thành tài nguyên

Không còn mô hình sản xuất - tiêu thụ - thải bỏ như trước, nông nghiệp tuần hoàn đang định hình một hệ sinh thái khép kín, nơi chất thải trở thành đầu vào cho chu trình mới.

Tại Hợp tác xã (HTX) Sản xuất và Kinh doanh nấm Đức Nhuận (xã Long Phụng, tỉnh Quảng Ngãi) sau hơn 15 năm hoạt động, mỗi năm phát sinh hơn 1.000 tấn mùn cưa. Thay vì xử lý như rác thải, toàn bộ lượng mùn cưa này được tái chế thành giá thể trồng cây. Theo Giám đốc HTX Lê Giang Phong, mùn cưa được phối trộn với men vi sinh, rỉ đường và bánh dầu đậu phộng để tạo thành giá thể mới, vừa thay thế đất, vừa bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng. Không dừng lại ở đó, rơm rạ, bã mía hay rỉ đường cũng được đưa vào “vòng đời thứ hai”, trở thành nguyên liệu trồng nấm rơm, nấm sò, đặc biệt là nấm linh chi có giá trị kinh tế cao.

Không chỉ trong trồng trọt, mô hình tuần hoàn cũng phát huy hiệu quả trong chăn nuôi. Tại trang trại gà đẻ Trúc Lộc (xã Lân Phong, tỉnh Quảng Ngãi), chất thải từ hơn 15.000 con gà và 1.000 con lợn được xử lý qua hệ thống biogas, tạo ra nguồn năng lượng sạch phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Phần bã thải tiếp tục được tận dụng làm phân bón hoặc nuôi trùn quế, hình thành một chu trình khép kín, giảm thiểu tối đa chất thải ra môi trường.

Thực tế cho thấy, việc tận dụng rơm rạ không chỉ giảm ô nhiễm mà còn mang lại lợi ích kinh tế đáng kể. Tại Quảng Trị, việc chuyển từ đốt rơm rạ sang ủ compost (ủ phân hữu cơ) giúp mỗi tấn rơm khô tạo ra 600 - 700kg phân hữu cơ, giảm đáng kể chi phí phân bón. Tại Đồng Tháp, mô hình trồng nấm rơm trong 45 ngày có thể biến 10 tấn rơm thành 700kg nấm, mang lại lợi nhuận hàng triệu đồng, chưa kể phần rơm sau đó tiếp tục được tái chế thành phân hữu cơ.

Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), việc kết hợp các hoạt động như thu gom rơm, trồng nấm, ủ compost có thể giúp tăng thêm khoảng 33,5 triệu đồng/ha, nâng tổng thu nhập lên tới 133,5 triệu đồng/ha/năm - cao hơn 35 - 40% so với canh tác lúa đơn thuần.

“Hóa vàng” từ rơm rạ: Cơ hội lớn từ kinh tế tuần hoàn nông nghiệp - 1
Từ những phụ phẩm rơm rạ đã trở thành nguyên liệu trồng nấm đem lại thu nhập cao cho người dân. 

Dư địa còn rất lớn

Mỗi năm Việt Nam tạo ra khoảng 160 triệu tấn phụ phẩm nông nghiệp, riêng rơm rạ chiếm hơn 42 triệu tấn. Tuy nhiên, hơn 80% lượng phụ phẩm này chưa được khai thác hiệu quả. Hoạt động đốt rơm rạ vẫn phổ biến, thải ra hàng triệu tấn khí độc và bụi mịn, đặc biệt nghiêm trọng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi khoảng 70% rơm rạ bị đốt bỏ. Điều này cho thấy dư địa phát triển kinh tế tuần hoàn từ rơm rạ còn rất lớn, không chỉ về mặt kinh tế mà còn trong giảm phát thải và bảo vệ môi trường.

Dù tiềm năng rõ ràng, việc nhân rộng các mô hình kinh tế tuần hoàn vẫn gặp nhiều rào cản. Trước hết là bài toán logistics. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, ruộng đất manh mún khiến việc thu gom rơm rạ tốn kém và thiếu hiệu quả. Chi phí vận chuyển tại nhiều địa phương lên tới

740 đồng/kg, trong khi thời gian giữa các vụ ngắn buộc nông dân phải xử lý nhanh, khiến việc đốt rơm vẫn là lựa chọn phổ biến. Bên cạnh đó, công nghệ chế biến còn hạn chế, chủ yếu phù hợp với quy mô lớn, chưa đáp ứng điều kiện của các HTX và nông hộ nhỏ. Thị trường tiêu thụ cũng chưa ổn định. Các sản phẩm từ rơm rạ như phân hữu cơ, thức ăn chăn nuôi hay vật liệu sinh học vẫn thiếu tiêu chuẩn thống nhất, giá cả biến động theo mùa vụ, khiến người dân e ngại đầu tư dài hạn...

Để khai thác hiệu quả “mỏ vàng” rơm rạ, cần một chiến lược tổng thể, đồng bộ từ chính sách đến thực thi. Trước hết, cần lồng ghép mục tiêu thu gom và tái sử dụng rơm rạ vào Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, với các chỉ tiêu cụ thể về giảm phát thải và tăng thu nhập. Việc nâng tỷ lệ thu gom lên 100% vào năm 2030 là hoàn toàn khả thi nếu có cơ chế phù hợp. Song song đó, cần phát triển các trung tâm thu gom và chế biến rơm rạ theo mô hình hợp tác công - tư nhằm giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả quy mô. Chính sách tín dụng xanh cũng cần được đẩy mạnh, với các gói vay ưu đãi cho nông dân và hợp tác xã đầu tư máy móc, công nghệ. Ứng dụng công nghệ số như truy xuất nguồn gốc, bản đồ nông hóa hay blockchain (công nghệ chuỗi khối) cũng sẽ giúp minh bạch hóa chuỗi giá trị, nâng cao niềm tin của thị trường.

Ông Vũ Thái Trường, Trưởng phòng Biến đổi khí hậu và môi trường (UNDP) cho biết, kinh tế tuần hoàn không chỉ là giải pháp môi trường mà còn là chiến lược kinh tế thông minh, có thể mang lại lợi ích kinh tế 4.500 tỷ USD đến năm 2030, tạo việc làm và mở rộng thị trường xanh. “Lần đầu tiên Việt Nam có một hệ thống phân loại xanh thống nhất ở cấp quốc gia, giúp doanh nghiệp xác định rõ hoạt động xanh và tiếp cận vốn xanh với chi phí thấp hơn”. Theo ông Trường, các Nghị quyết 57, 59, 66, 68 đã tạo nền tảng thể chế quan trọng cho giai đoạn phát triển mới, khẳng định khu vực tư nhân là động lực trung tâm của tăng trưởng xanh. Tuy vậy, cần ưu tiên các ngành dễ tạo chuyển biến như nông nghiệp, nhựa, dệt may, điện tử, vật liệu xây dựng, đồng thời phát triển thị trường nguyên liệu thứ cấp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực cho doanh nghiệp để kinh tế tuần hoàn thực sự vận hành hiệu quả.

Từ những cánh đồng lúa, rơm rạ từng bị coi là phế phẩm đang dần trở thành tài nguyên quý trong nền kinh tế tuần hoàn. Khi được tổ chức bài bản và hỗ trợ đúng hướng, “vàng nâu” này không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát thải ròng bằng “0”.

Hà Anh

Tin liên quan