Quay lại Dân trí
Nội vụ & Xã hội
  1. Đời sống - Kinh tế - Xã hội

Kinh tế Việt Nam năm 2026: Hiện thực hóa khát vọng bứt phá

Thái An
Thái An

Mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2026 không chỉ là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, mà còn phản ánh quyết tâm chính trị lớn, thể hiện khát vọng bứt phá mạnh mẽ.

Khát vọng lớn nhưng đầy thách thức

Năm 2025, dù chịu nhiều “gió ngược” từ môi trường kinh tế toàn cầu, tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn có xu hướng tích cực. Năm 2025, kinh tế Việt Nam ghi nhận bước bứt phá mạnh mẽ khi tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 8,02%, mức cao thứ hai trong giai đoạn 2011 - 2025, chỉ sau năm 2022. Quy mô GDP theo giá hiện hành 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 38 tỷ USD so với năm trước đó. GDP bình quân đầu người 2025 tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD), đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Tăng trưởng kinh tế vượt 8% của Việt Nam là điểm sáng trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động, đặc biệt là căng thẳng thương mại, chính sách thuế đối ứng của Mỹ. Đây là mức cao nhất trong khu vực ASEAN và thuộc nhóm tăng trưởng hàng đầu thế giới, khu vực; là nền tảng vững chắc để Việt Nam bước vào giai đoạn tăng tốc mới với chất lượng tăng trưởng cao và bền vững hơn.

Tại Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 vừa được Quốc hội thông qua, mục tiêu phấn đấu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt từ 10% trở lên. Lần đầu tiên sau gần 4 thập niên đổi mới, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số, thể hiện khát vọng bứt phá mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao với tầm nhìn dài hạn, đưa nền kinh tế vào một quỹ đạo tăng trưởng mới.

Tuy nhiên, thách thức để đạt mục tiêu này là rất lớn. Giới chuyên gia nhận định, tình hình thế giới năm 2026 dự báo vẫn còn nhiều biến động: Lạm phát toàn cầu chưa hạ nhiệt, thương mại và đầu tư quốc tế phục hồi chậm, cùng với những xung đột địa chính trị có thể gián đoạn chuỗi cung ứng.

Không chỉ đối mặt với khó khăn từ bên ngoài, nền kinh tế trong nước cũng còn nhiều điểm nghẽn cố hữu. Hệ thống quy định pháp luật còn vướng mắc, thủ tục hành chính rườm rà, đầu tư công dù giải ngân mạnh nhưng hiệu quả chưa đồng đều; khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn phát triển hạn chế, tăng trưởng nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào khối doanh nghiệp FDI…

Kinh tế Việt Nam năm 2026: Hiện thực hóa khát vọng bứt phá - 1
Thủ tướng Phạm Minh Chính tặng quà, động viên cán bộ, công nhân, người lao động trên công trường thi công dự án Sân bay Long Thành, ngày 2/8/2025.  Ảnh: VGP 

Theo TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị - Học viện Chính trị Khu vực II, mục tiêu này tuy thách thức nhưng vẫn khả thi. Bởi năm 2026 sẽ có hàng loạt dự án trọng điểm của cả nước được khởi công và về đích. Gần nhất có thể kể đến Cảng Hàng không quốc tế Long Thành sẽ chính thức bay thương mại, kéo theo nhiều dự án cao tốc, đường sắt đồng loạt kết nối tới sân bay. Cùng với đó có dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2... tổng vốn đầu tư công vô cùng lớn. “Đối với các quốc gia khác, 1 đồng vốn đầu tư công có thể kéo theo 3 - 4 đồng từ các thành phần kinh tế khác. Còn ở một quốc gia đang thiếu hạ tầng như Việt Nam thì 1 đồng vốn đó có thể kéo thêm tới 20 đồng. Như vậy, đột phá hạ tầng sẽ là trụ cột rất mạnh của kinh tế nước ta trong năm 2026", ông Điển nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, nền kinh tế số và khu vực tư nhân cũng được đánh giá là động lực mới để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng hai con số. Với tốc độ tăng trưởng có thể đạt 25 - 30% mỗi năm ở nhiều phân khúc như thương mại điện tử, công nghệ tài chính, dịch vụ số… các lĩnh vực này sẽ trở thành lực đẩy quan trọng của tăng trưởng dài hạn. Việc khu vực kinh tế tư nhân được xác định là “một động lực quan trọng nhất” theo Nghị quyết 68-NQ/TW mở ra cơ hội khai thác mạnh mẽ nguồn lực nội tại, thúc đẩy tăng trưởng nhanh của nền kinh tế.

Cùng với đó, đầu tư FDI cũng đang có rất nhiều kỳ vọng sẽ tiếp tục đột phá.

Về xuất khẩu, chúng ta có dư địa lớn khi đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ đã mang về kết quả tốt. Một số loại thuế đối ứng đầu năm bị áp tới 49%, nay đã giảm còn 19%. Những ngành bị áp thuế cao 18 - 19% đều là những ngành xuất ít, còn các ngành lợi thế của Việt Nam như lương thực thực phẩm chỉ chịu thuế suất thấp. Đây là lợi thế cạnh tranh rất lớn của Việt Nam.

Về tiêu dùng trong nước thì Việt Nam vẫn đang là nền kinh tế có dân số vàng với dân số trẻ chiếm đa số. Khi kinh tế có triển vọng thì tiêu dùng cũng có dấu hiệu ấm lại. Thời gian qua, cả du lịch quốc tế và nội địa đều ghi nhận tăng trưởng mạnh, kích thích mua sắm người dân tăng.

"Như vậy, trong số các trụ cột thúc đẩy tăng trưởng thì 3 trụ cột truyền thống là đầu tư FDI, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước đều đang có triển vọng sức bật rất lớn. Đầu năm 2026 khi Chính phủ ban hành Nghị quyết với các giải pháp toàn diện và quyết tâm cao thì mục tiêu tăng trưởng trên 10% sẽ trong tầm tay", TS Nguyễn Văn Điển nhìn nhận.

Kinh tế Việt Nam năm 2026: Hiện thực hóa khát vọng bứt phá - 2

Chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố quyết định để đạt mục tiêu tăng trưởng hai  

con số. 

Cải cách mạnh mẽ, khai thác triệt để các động lực tăng trưởng mới 

Theo các chuyên gia, mục tiêu tăng trưởng 10% năm 2026 vừa là áp lực, vừa là động lực thúc đẩy toàn bộ hệ thống chính trị hướng tới cải cách mạnh mẽ hơn.

PGS, TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) cho rằng, mô hình tăng trưởng hiện nay vẫn thiên về phát triển theo chiều rộng, dựa nhiều vào lao động giá rẻ, tiêu tốn nguồn vốn và năng lượng lớn, phát thải cao, lãng phí nguồn lực và phụ thuộc đáng kể vào đầu tư, công nghệ nước ngoài.

Mô hình mới mà Việt Nam hướng đến phải tạo được tăng trưởng cao hai con số liên tục trong 5 năm 2026 - 2030. Nếu vẫn phát triển theo hướng cũ, nền kinh tế sẽ cần một lượng đầu vào khổng lồ mới có thể duy trì mức tăng trưởng cao, từ đó gia tăng phụ thuộc và kém bền vững. “Chúng ta cần điều chỉnh, thậm chí chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng giảm các yếu tố giá rẻ, giản đơn, giá trị gia tăng thấp”, PGS, TS Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh và cho rằng, mô hình tăng trưởng mới nên khai thác triệt để các động lực tăng trưởng mới.

Thứ nhất, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số sẽ tạo nền tảng hành lang phát triển mới dựa trên số hóa, không giấy tờ, tốc độ nhanh hơn, năng suất cao hơn, hiệu năng tốt hơn và thời gian ngắn hơn. Việt Nam hiện có đủ điều kiện để khai thác lợi thế này.

Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi xanh giúp hàng hóa Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế, mở rộng đầu ra, nâng cao giá trị. “Chuyển đổi xanh triệt để, phát thải ròng thấp, logistics xanh, doanh nghiệp xanh, lối sống xanh, tiêu dùng xanh... sẽ tạo nên tiêu chuẩn mới trong mô hình kinh doanh, kết hợp giữa số và xanh”, ông Lạng phân tích.

Thứ ba, phân quyền mạnh cho địa phương để khai thác tính năng động và sáng tạo. Khi có cơ chế đặc thù và linh hoạt, các địa phương sẽ huy động tốt hơn nguồn lực phát triển và xây dựng được mô hình tăng trưởng riêng.

Thứ tư, cần cắt giảm các thủ tục hành chính, loại bỏ giấy phép con và điều kiện kinh doanh không cần thiết, gây phiền hà, chậm trễ. Đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, số hóa quy trình để tinh gọn bộ máy, tăng hiệu quả. Bên cạnh đó, cần phải cơ cấu lại nền kinh tế, đầu tư cho công nghệ.

“Hiện nông nghiệp chiếm khoảng 12% GDP, trong khi các nền kinh tế phát triển như Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Singapore... chỉ còn 0,5 - 1%. Vì vậy, Việt Nam cần giảm ít nhất 11% trong 20 năm tới, tức mỗi năm giảm 0,5 - 0,6% tỷ trọng nông nghiệp trong GDP. Điều này đòi hỏi các ngành công nghệ mới, công nghệ cao phải phát triển rất nhanh để chuyển dịch lao động sang lĩnh vực khác”, ông Lạng phân tích.

Về mục tiêu tăng tốc độ tăng năng suất lao động đạt khoảng 8,5%/năm, ông Lạng cho rằng không khó đạt được nếu đầu tư hiện đại hóa, giảm lao động thủ công, thay đổi phương thức quản lý và áp dụng AI để tối ưu hóa quy trình sản xuất, giúp tăng sản lượng với đầu vào nhỏ nhất.

Mở rộng thị trường nước ngoài, ký thêm hiệp định thương mại mới, thu hút đầu tư lớn, đổi mới cơ sở vật chất, máy móc và ứng dụng công nghệ mới cũng sẽ giúp tăng hiệu quả sản xuất. Đồng thời, các ngành cần tạo mô hình kinh tế có tính hỗ trợ lẫn nhau, trong khi bộ máy quản lý phải áp dụng công cụ thông minh hơn, đơn giản, tiết kiệm và ít lãng phí hơn.

Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) theo ông Lạng, thực chất là năng suất của công nghệ. Tác động của yếu tố công nghệ vào tăng trưởng từ 47% lên 55% nghĩa là phần lao động đơn giản và vốn giá rẻ phải giảm, còn tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao phải tăng mạnh. Do đó, cần đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển để làm chủ công nghệ mới, sản xuất sản phẩm tinh xảo, giá trị cao, mang hàm lượng công nghệ đặc thù.

Về nguồn nhân lực, chương trình đào tạo 100.000 kỹ sư AI là bước khởi đầu tốt, nhưng để chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, Việt Nam cần đào tạo 2 - 3 triệu kỹ sư AI trong giai đoạn tới để tạo lực đẩy đủ lớn cho các ngành công nghệ mới.

Kinh tế Việt Nam năm 2026: Hiện thực hóa khát vọng bứt phá - 3
TPHCM- đầu tàu kinh tế.  Ảnh: VGP 

"Mở khóa" thể chế để kích hoạt động lực tăng trưởng

Việc thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế là chuyện cần thiết nhưng nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng cải cách thể chế cũng quan trọng không kém. Theo TS Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, hiện vẫn tồn tại những "sợi dây vô hình" - là các ràng buộc về thể chế, quy định, quy trình tuy có tác dụng giữ cho hệ thống ổn định, nhưng lại vô tình kìm hãm động lực phát triển. Những sợi dây này không chỉ "trói" người dân và doanh nghiệp, mà còn trói buộc cả khu vực công, làm giảm hiệu quả thực thi dù chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, cơ quan quản lý, các cấp chính quyền đã bao quát đầy đủ, trúng và đúng. Do vậy, để tạo ra đột phá trong mô hình tăng trưởng điều tiên quyết là phải "mở khóa" thể chế. Khi giải quyết triệt để tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong pháp luật, quy hoạch và chính sách, các chủ trương mới có thể được thực thi thực chất và hiệu quả.

Muốn vậy, trước hết hệ thống chính sách và pháp luật cần được tinh gọn hơn nữa. Mỗi lĩnh vực chỉ nên được quy định trong một đạo luật thống nhất, có tính ổn định, dễ dự báo, dễ tuân thủ và thực thi. Song song, cần xây dựng hành lang thể chế mới để thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích các mô hình kinh tế mới. Việt Nam cần mạnh dạn triển khai các mô hình sandbox (thí điểm có kiểm soát) cho những lĩnh vực đổi mới như công nghệ tài chính, tài sản ảo, năng lượng tái tạo, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh… Đồng thời, cần kết hợp các chính sách trong việc hỗ trợ phát triển doanh nghiệp thực sự hiệu quả, tạo động lực, nhất là chính sách về tài khóa hoặc tiền tệ. Chính sách hỗ trợ phải hướng tới nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, tránh dàn trải hoặc kích thích đầu cơ, tạo bong bóng tài sản và gây áp lực lạm phát.

"Để thể chế thực sự phát huy hiệu quả, Nhà nước cần chuyển sang mô hình "kiến tạo phát triển", giảm đến mức thấp nhất sự can thiệp trực tiếp vào kinh tế thị trường, tạo điều kiện để xã hội và doanh nghiệp tự vận hành, sáng tạo. Nếu không tháo gỡ, con thuyền khó tăng tốc, thậm chí mắc kẹt trong "vùng an toàn" của chính mình", TS Nguyễn Quốc Việt chia sẻ.

Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt tăng trưởng 10%, Việt Nam cần khoảng 1.400 tỷ USD vốn đầu tư trong 5 năm tới (2026 - 2030), tương đương 280 tỷ USD/năm.

Tin liên quan
Nhiều ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi

Nhiều ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi

Lãi suất huy động tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng, đẩy mặt bằng lãi suất tiết kiệm lên cao hơn so với đầu năm. Cuộc đua hút tiền gửi vì thế trở nên...